Lễ Suy Tôn Thánh Giá


Ga 3: 13-17

Anh chị em thân mến,

Trong sa mạc, ông Môsê được Thiên Chúa truyền lệnh đúc một con rắn đồng treo lên để ai bị rắn cắn thì nhìn lên con rắn sẽ được cứu sống. Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh này để nói về việc Ngài bị treo trên thập giá để cứu chuộc loài người.

Thập giá là cái giá bằng hai khúc cây ghép thành hình chữ thập, dùng để xử tử phạm nhân bằng cách đóng đinh. Phạm nhân bị treo trên thập giá giữa trời như thế để chịu đau đớn thể xác và tinh thần cho đến khi chết. Hình phạt này vừa trừng trị phạm nhân vừa dằn mặt dân chúng, khiến cho những ai muốn vi phạm luật pháp đều phải e dè. Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu chịu chết trên cây thập giá, Ngài đã chiến thắng sự chết, chiến thắng tội lỗi, đem lại ơn cứu chuộc cho thế gian. Qua cái chết và cuộc phục sinh của Ngài, Chúa đã biến cây thập giá tàn khốc thành cây thánh giá đem lại sự sống cho những kẻ tin.

Qua bao thời đại, hình ảnh thánh giá vẫn luôn là biểu tượng của đức tin Kitô giáo. Chính Chúa Kitô đã kêu gọi các môn đệ hãy vác thập giá mà đi theo Chúa (Mt 16:24). Điều đó muốn nói rằng khó khăn trong cuộc sống bao giờ cũng xảy ra cho người môn đệ, vì đường lối của Chúa khác với đường lối loài người, và giáo huấn của Chúa thường đi ngược với văn hóa thế gian. Vì thế, ai muốn làm môn đệ Chúa, thì cần phải sẵn sàng vác lấy thập giá để đi đằng sau Chúa. Chúa đi trước, tín hữu theo sau; Thầy dẫn đường, trò nối gót đi theo. Việc theo Chúa không dừng lại ở thập giá, nhưng là tiến đến vinh quang. Chúa không tìm đau khổ hay sự chết. Chúa cũng không muốn môn đệ đau khổ hay phải chịu chết. Chúa muốn con người được sống và sống sung mãn. Nhưng vì con đường Chúa chọn để đi đến sự sống sung mãn phải qua thập giá, nên người môn đệ cũng phải đi theo như thế. Thực ra, chỉ khi đi qua con đường này, người môn đệ hay người tín hữu mới cảm nghiệm được giá trị của ơn cứu chuộc và công lao của Chúa Giêsu Kitô.

Chúa biết tâm lý con người, nên Chúa đến với con người và ban ơn cho con người qua khung cảnh tâm lý đó. Theo tâm lý bình thường, khi người ta phải trả giá cao, thì người càng quý trọng sự vật hay quà tặng mình nhận được. Vì thế, thập giá là một giá cả to lớn vô cùng, nên ơn cứu chuộc do Chúa ban tặng có giá trị tuyệt đối. Tuy nhiên, không phải người môn đệ vác thập giá theo Chúa, thì Chúa phải trả công cho họ. Không phải như thế, vì trước mặt Chúa không ai có công trạng gì cả. Việc vác thập giá của mình để theo Chúa chỉ là một cố gắng về phía loài người để biểu lộ sự đáp trả của mình đối với Chúa mà thôi. Ơn Chúa ban không bao giờ bi lệ thuộc vào công trạng của loài người.

Thập giá của Chúa Giêsu Kitô đã biến thành thánh giá vì đã được nhuộm máu cứu chuộc của Con Thiên Chúa. Khi nhìn lên thánh giá, chúng ta rút ra những bài học cho đời sống của mình. Thứ nhất, nhìn lên thánh giá, chúng ta suy nghĩ về mầu nhiệm cao cả của tình yêu Chúa. Thánh giá là một mầu nhiệm, vì chúng ta không hiểu hoàn toàn tại sao Chúa lại muốn dùng con đường thánh giá để cứu chuộc chúng ta. Chúa có thể dùng muôn vàn cách khác để cứu chuộc và giáo huấn con người về tội lỗi, về hậu quả của tội lỗi, về tình yêu và về ơn cứu chuộc. Nhưng Ngài không làm, mà Ngài lại chọn thánh giá. Trước mầu nhiệm này, chúng ta chỉ biết dùng đức tin để đón nhận. Tuy nhiên, thánh giá cho thấy tình yêu cao vời của Chúa đối với chúng ta. Ngài không bỏ rơi loài người trong tội lỗi và sự chết muôn đời. Ngược lại, Ngài chọn lựa cách thế hữu hiệu để bày tỏ tình yêu và cứu chuộc chúng ta. Chúng ta xin cho mình cảm nghiệm được tình yêu của Chúa để mình chân thành đáp trả bằng tình yêu và lối sống của mình.

Thứ hai, thánh giá cũng dạy cho chúng ta bài học khiêm nhường. Đây là điều quan trọng muôn thuở, đây là phương thuốc trị lại căn bệnh tự cao tự đại của loài người. Theo Kinh Thánh, cũng vì tính tự cao tự đại, nên con người đã vi phạm luật Chúa qua việc ăn trái cấm (St 3:1-24). Con người cũng tự cao tự đại nên đã muốn xây tháp Baben cao đến tận trời, nhưng kết quả không thành (St 11:1-9). Con người vẫn luôn mang trong mình cái cố tật này, nên mọi thứ bất hòa và chiến tranh thường phát sinh từ gia đình ra đến xã hội.

Thánh giá cho thấy Chúa khiêm nhường đến độ bỏ vị thế vinh quang của mình để làm người, chia sẻ mọi hoàn cảnh của con người, kể cả sự chết. Theo gương Chúa, chúng ta cũng học cách đặt mình vào hoàn cảnh người khác để lắng nghe ý kiến của họ, để cảm thông cho hoàn cảnh của họ, để học hỏi sự khôn ngoan của họ và để hợp tác với họ khi làm việc chung. Trong khi tự cao tự đại chỉ chú ý tới cá nhân mình, thì khiêm nhường giúp chúng ta nghĩ đến người khác. Tự cao tự đại luôn ích kỷ còn khiêm nhường luôn hướng về bác ái vị tha. Chính vì thế, khiêm nhường là một đức tính quan trọng để có thể có một tình yêu chân thành đối với Chúa và tha nhân. Hơn nữa, khiêm nhường giúp cho mỗi người nhìn rõ con người của mình, đâu là sở trường đâu là sở đoản, đâu là ưu điểm đâu là khuyết điểm. Khiêm nhường đem lại hòa thuận cho mọi người.

Thứ ba, thánh giá cũng là biểu hiệu của niềm hy vọng. Khi Chúa Giêsu giảng dạy, Ngài nổi tiếng và có nhiều người theo. Các môn đệ hãnh diện và đặt niềm hy vọng vào Ngài. Nhưng khi Ngài bị xử tử trên thánh giá, thì đó là sự thất bại hoàn toàn theo phương diện loài người. Nhưng chính trong sự thất bại đó, Chúa đã sống lại và trở thành Chúa Phục Sinh đem lại ơn cứu độ và sự sống trường sinh cho mọi kẻ tin. Vì thế, mỗi khi chúng ta lâm vào cảnh khó khăn, nghịch cảnh, chúng ta không tuyệt vọng, bởi vì chúng ta biết rằng với tình yêu và quyền năng của Ngài, Thiên Chúa có thể biến những thất bại hay nghịch cảnh thành những phương tiện đem lại ích lợi cho chúng ta.

Khi cùng với Giáo Hội suy tôn thánh giá của Chúa, chúng ta dâng lời cảm tạ Chúa vì tình yêu cao vời của Ngài. Chúng ta xin Chúa cho chúng ta biết yêu mến, khiêm nhường và hy họng như mầu nhiệm thánh giá dạy dỗ chúng ta.