Vượt Qua Trở Ngại

Chúa Nhật 3 Mùa Chay, Năm A
Mt 17:1-9

Anh chị em thân mến,

Vì nhu cầu trật tự và sinh tồn nên con người thường tạo ra những quy ước xã hội để điều hòa các giao tế giữa người với người. Tuy nhiên, quy ước cũng tạo ra trở ngại. Chúa Giêsu đã vượt qua các quy ước xã hội để đem tình thương và ơn cứu độ của Ngài cho mọi người.

Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp tại làng Xykha cho thấy điều đó. Chúa Giêsu mỏi mệt vì đi đường xa và thời tiết nóng nực, nên Ngài đến ngồi nghỉ bên bờ giếng Giacóp. Vừa lúc ấy, một người phụ nữ Samari đến múc nước. Chúa Giêsu đã nói chuyện với bà ấy, và từ việc xin nước uống, Ngài đã dẫn đưa bà đến nguồn nước hằng sống tức sự sống do  Thần Khí Thiên Chúa, hay là Chúa Thánh Thần.

Khi tiếp xúc với người phụ nữ Samari, Chúa Giêsu đã vượt qua ba quy ước xã hội. Thứ nhất, giữa người Do Thái và người Samari có những hiềm khích trong lịch sử, nên họ không giao tiếp với nhau. Vì thế, Chúa Giêsu đã gạt qua quy ước đó, để nói chuyện với người phụ nữ. Thứ hai, tương tự như quan niệm nam nữ thọ thọ bất thân trong văn hóa Việt Nam, người nam và người nữ trong xã hội Do Thái không tiếp chuyện với nhau trong hoàn cảnh cô nam quả nữ như vậy. Chúa Giêsu đã phá vở quy ước đó. Thứ ba, những người Do Thái đương thời thường phân chia rõ rệt giữa người công chính và người tội lỗi. Đặc biệt là người Pharisêu rất nghiêm nhặt trong lối phân biệt này. Vì vậy, những người tự cho mình là công chính thì không giao tiếp với người tội lỗi, huống hồ là một thầy dạy, một nhà mô phạm. Nhưng Chúa Giêsu đã vượt qua ranh giới đó để tiếp xúc với người phụ nữ. Bà này là người tội lỗi, đã có năm đời chồng và đang sống với một người đàn ông mà có không hôn thú. Có lẽ vì để tránh sự xầm xì của hàng xóm nên bà mới ra giếng lấy nước vào giữa trưa, lúc mà mọi người đều ở nhà tránh nắng và nghỉ ngơi.

Qua cuộc trò chuyện, Chúa Giêsu cho bà thấy rằng con người cần được Thần Khí Chúa liên kết với Thiên Chúa để được sự sống đời đời. Con người luôn mong mỏi được sống mãi. Điều này chỉ có Thiên Chúa mới có khả năng ban cho con người mà thôi. Chúa Giêsu cho người phụ nữ thấy rằng Ngài là Đấng Thiên Sai, có khả năng ban Thần Khícho bà để bà được hưởng sự sống đời đời.

Chúa Giêsu còn cho người phụ nữ thấy rằng con người không thể giới hạn sự hiện diện của Chúa vào một nơi chốn. Tuy người Do Thái thờ Chúa ở Giêrusalem, còn người Samari phụng tự Ngài trên núi Gêrizim, nhưng đó là vì con người cần nơi chốn để thờ phượng và làm biểu tượng nhắc nhở về sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa loài người. Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, vượt trên mọi ràng buộc, nên không ai có thể nói rằng Chúa chỉ hiện diện chỗ này hay chỗ kia mà thôi. Điều quan trọng không phải là nơi chốn nhưng là sự thờ phượng trong Thần Khí và sự thật. Sự thờ phượng này là một tâm tình mộ mến Thiên Chúa phát xuất từ trong tâm hồn do sự hướng dẫn của Thần Khí. Chính Thần Khí giúp cho tín hữu hiểu biết sự thật về Thiên Chúa để tôn thờ Ngài. Thành ra, việc thờ phượng Chúa chủ yếu là mối quan hệ thân thiết giữa người tín hữu với Ngài, chứ không phải là những chuyện bề ngoài như nơi chốn hay hình thức thờ phượng. Những thứ bề ngoài chỉ là phương tiện cho việc thờ phượng mà thôi.

Chúa Giêsu đã từng bước một dẫn người phụ nữ từ sự khát nước tự nhiên đến niềm tin vào Ngài. Bà cảm nhận được tình thương của Ngài. Mặc dù Chúa biết hoàn cảnh sống của bà, nhưng Ngài không kết án. Ngược lại Ngài đón nhận và giải thích cho bà hiểu về sự sống đời đời, về Đấng Thiên Sai và việc thờ phượng đích thực đối với Thiên Chúa. Bà hân hoan và chạy ngược về làng để loan báo Tin Mừng. Bà không mang vò nước về vì vò nước sẽ khiến bà đi chậm. Lòng bà tràn ngập niềm vui, nên bà để vò nước lại và chạy cho nhanh để về chia sẻ niềm vui với những người khác. Bà không ngại ngùng việc người ta có thể xầm xì nói xấu bà vì hoàn cảnh sống của bà trái với lễ giáo. Bà đã vượt qua nỗi ngại ngùng để trở nên sứ giả Tin Mừng.

Câu chuyện về người phụ nữ Samari cũng giúp chúng ta nhớ lại thân phận của mình. Tự sâu thẳm của lòng mình, chúng ta luôn khao khát Chúa, chúng ta mong được sống mãi, chúng ta thèm được thương yêu mãi mãi. Tất cả những điều này chỉ có Chúa mới thể lấp đầy mà thôi. Vì vậy, điều cần thiết là chúng đối diện với chính mình để nhận ra những trở ngại trong mối quan hệ giữa chúng ta với Chúa. Có khi trở ngại là thời gian, có khi là tiền bạc, có khi là vết thương lòng do người khác gây ra, có khi là tâm hồn nguội lạnh... Chúng ta cần tìm đến Chúa với hết lòng mình thì Chúa sẽ cho chúng ta cảm nếm được niềm vui như người phụ nữ Samari. Chúa nói với người phụ nữ về việc thờ phượng Chúa trong Thần Khí và sự thật, tức là hết lòng tin theo Chúa dưới tác động của Thần Khí, thực hành giáo lý của Chúa và làm việc thờ phượng với lòng chân thành chứ không phải bằng hình thức chiếu lệ bên ngoài.

Cũng như người phụ nữ, chúng ta cũng được kêu gọi làm sứ giả loan báo Tin Mừng. Trách nhiệm này được trao ban cho toàn thể Giáo Hội ngay từ ban đầu. Mỗi một người tín hữu đều có bổn phận giúp cho người khác biết Chúa Giêsu và tin vào Ngài. Việc rao giảng Tin Mừng không phải lúc nào cũng xuôi chảy. Chúng ta noi gương Chúa Giêsu để vượt qua các trở ngại do quy ước xã hội hoặc do hoàn cảnh phức tạp gây ra, để đem Tin Mừng đến cho tha nhân trong mọi hoàn cảnh.

Trong khi hướng về đại lễ Phục Sinh, chúng ta xin cho mình được quyết tâm đến với Chúa để được biến đổi từ bên trong và được cảm nghiệm niềm vui sâu xa như người phụ nữ Samari. Xin cho chúng ta cảm nghiệm được chính Chúa Giêsu là Đấng đem lại nước hằng sống làm thỏa mãn những khao khát sâu xa của tâm hồn chúng ta, vì Ngài nguồn mạch sự sống đời đời cho mọi kẻ tin.