Con Người Mới

Chúa Nhật 2 Phục Sinh, Năm A
Ga 20: 19-31

Anh chị em thân mến,

Khi theo Chúa Giêsu các môn đệ đã tận mắt chứng kiến con người, cuộc sống và sự nghiệp của Ngài. Họ đặt hết hy vọng vào Ngài. Vì thế khi Chúa chịu tử hình thập giá, các môn đệ tan nát cõi lòng. Hy vọng của họ bỗng chốc trở thành mây khói. Thay vào đó, tâm hồn họ buồn sầu, sợ hãi và rối loạn. Có người đóng kín cửa và ở mãi trong nhà. Có kẻ bỏ Giêrusalem để về miền quê, vì thành đô là nơi nguy hiểm; nhà cầm quyền có thể đang lùng bắt dư đảng, những người từng theo Chúa Giêsu.

Trong đoạn Tin Mừng Ga 29:19-31, một nhóm môn đệ của Chúa Giêsu tụ lại trong căn phòng đóng kín, vì họ sợ người Do Thái. Ở đây, người Do Thái chỉ đến nhà cầm quyền chứ không phải là tất cả mọi người Do Thái.  Đang khi họ sợ hãi, hoang mang, Chúa Giêsu hiện ra giữa họ. Ngài đem cho họ sự bình an mà họ đang cần.Ngài không chỉ nói suông, nhưng còn cho họ xem tay và cạnh sườn để họ thấy các lỗ đinh và vết thương do lưỡi giáo đâm qua. Họ vui mừng vì Chúa không những sống lại nhưng còn là một con người mới trong thân xác phục sinh.

Kế đó, Chúa thổi hơi vào họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:23). Hơi thở tượng trưng cho Thánh Thần là sự sống của Thiên Chúa. Khi tạo dựng Ađam, Thiên Chúa cũng thổi hơi vào ông để ông nhận lấy sức sống (St 2:7). Đó là cuộc sáng tạo cũ. Giờ đây, Chúa Giêsu cũng thổi hơi vào các môn đệ để làm một cuộc sáng tạo mới. Ngài ban Thánh Thần để biến họ thành con người mới, có sức sống mới. Ngài còn trao cho họ sứ vụ hòa giải. Trong bối cảnh này, Thánh Thần ở đây là Thánh Thần để ban ơn tha tội. Như thế, qua các môn đệ, Chúa Giêsu trao quyền tha tội cho Giáo Hội. Thực ra Ngài hiện diện trong Giáo Hội và dùng Giáo Hội như phương tiện để tha tội cho những ai cần đến ơn tha thứ.

Sự biến đổi nơi các môn đệ thật sâu xa, nên họ sống với một tinh thần mới. Như trong bài đọc một của Chúa Nhật 2 Phục Sinh, năm A, trích từ sách Công Vụ Tông Đồ 2:42-47, các tín hữu đầu tiên sống theo một khuôn mẫu có năm điểm nổi bật. Thứ nhất, họ chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy. Nội dung của việc giảng dạy là nói về Chúa Giêsu, giáo huấn của Ngài và những việc Ngài làm. Các tín hữu được kêu gọi để sống theo tinh thần của Chúa Giêsu. Tại sao các tín hữu chuyên cần tham dự các buổi giảng dạy? Vì họ có lòng yêu mến và tin tưởng sâu xa với Chúa Giêsu. Khi người ta ngưỡng mộ, yêu mến, và tin tưởng một người nào, thì người ta muốn biết thật nhiều về người đó; người ta thích thú tìm hiểu về người đó. Các môn đệ của Chúa Giêsu cũng làm như thế. Họ mến Chúa và họ tìm hiểu về Chúa qua việc lắng nghe các Tông Đồ giảng dạy.
Thứ hai, các tín hữu đầu tiên luôn luôn hiệp thông với nhau. Họ hiệp thông với nhau vì họ hiệp thông với Thầy Chí Thánh Giêsu. Họ hiệp thông không phải chỉ vì họ tự nguyện họp lại để thực hiện một mục đích chung. Nhưng trước hết và trên hết, họ được Chúa Giêsu kêu gọi, thánh hiến và liên kết với Chúa và với nhau. Họ được ban Thánh Thần để sống với Thiên Chúa Ba Ngôi. Như thế, sự hiệp thông của họ đặt căn bản trên sự sống thần linh mà ân sủng Chúa đem đến trong lòng họ. Thật vậy, họ liên kết với Chúa Giêsu như cành nho với cây nho, nhờ đó họ liên kết với nhau (Ga 15:5). Họ đón nhận cùng một sức sống từ Chúa Giêsu, nên họ luôn luôn hiệp thông với nhau vì họ luôn luôn hiệp thông với Chúa Giêsu.

Thứ ba, các tín hữu tiên khởi siêng năng tham dự lễ bẻ bánh. Vì họ yêu mến Thầy Chí Thánh, nên họ nghe lời Thầy và sống theo lời Thầy. Họ cũng nghe lời Thầy và siêng năng tham dự lễ bẻ bánh. Lễ bẻ bánh là một cách gọi khác của Thánh Lễ. Từ ngữ “siêng năng” có ý nói rằng họ hăng say, mong muốn, và tìm cách tham dự Thánh Lễ, chứ không chỉ làm chiếu lệ theo thói quen hay vì bị ép buộc. Khi có lòng yêu mến sâu xa, thì người ta sẽ làm mọi việc với hết lòng mình.

Thứ tư, các tín hữu cầu nguyện không ngừng. Họ yêu mến Chúa Giêsu, họ muốn lắng nghe lời Ngài dạy dỗ và bắt chước lối Ngài thực hành. Chúa đã dạy họ cầu nguyện và Ngài cũng cầu nguyện không ngừng. Vì vậy các tín hữu luôn luôn cầu nguyện.

Thứ năm, họ bán đất đai, của cải lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Vì họ được biến đổi sâu xa thành con người mới do biến cố Phục Sinh, nên họ yêu mến Chúa Giêsu hết lòng; vì lòng mến Chúa sâu xa, nên họ thương yêu nhau hơn cả anh chị em một nhà. Họ vượt ra khỏi cái tôi ích kỷ để sống tinh thần bác ái vị tha.

Tất cả những yếu tố này làm cho họ thành một tập thể đồng tâm nhất trí và được toàn dân thương mến (Cv 2:46-47). Họ đã thực hiện ước nguyện của Chúa Giêsu là nên một. Họ bày tỏ dấu chứng họ chính là môn đệ của Chúa Giêsu. Chính Ngài đã từng nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13:35).

Khi suy nghĩ về sự biến đổi nơi các tín hữu đầu tiên do cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu, chúng ta cũng được kêu gọi để sống theo tinh thần đó: siêng năng học hỏi lời Chúa và tất cả những gì liên quan đến đức tin; hiệp thông với nhau để tránh mọi thứ chia rẽ bất hòa;siêng năng tham dự Thánh Lễ; thường xuyên cầu nguyện. Về yếu tố thứ năm, chúng ta không buộc phải bán tài sản để sung công. Tuy nhiên, cái cốt lõi chính là lòng bác ái vị tha. Đây vẫn luôn là điều Chúa muốn chúng ta sống. Chúng ta được mời gọi để sẵn sàng chia sẻ với những người thiếu thốn hay góp tiền góp của để thực hiện sinh hoạt chung trong cộng đoàn đức tin hay ngoài xã hội. Xin Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh thổi hơi Thánh Thần xuống trên chúng ta để biến chúng ta thành những con người mới hầu làm chứng nhân hữu hiệu cho Ngài ở giữa thế gian.