Thầy tôi
Ngày mới đến Úc, tôi thường hay lang thang trên những con đường gần chung cư Pennington, đón xe buýt đi thành phố để có cơ hội tản bộ vào những khu buôn bán ở Central Market. Vì chỉ có ở đây tôi mới tưởng tượng ra cảnh sống ở quê nhà. Tôi tìm mua loại thuốc lá hiệu "Con Mèo" để hút cho đỡ cơn ghiền sau thời gian sống thiếu thốn ở trại tỵ nạn. Ngồi đón xe ở các trạm xe buýt, với vốn liếng tiếng Anh cập kiễng, tôi thấy có ngày gọi là "Good Friday", tôi chẳng hiểu tại sao lại có "Ngày Thứ Sáu Tốt", còn những ngày khác xấu hết hay sao? Sau này tôi mới hiểu đó là "Thứ Sáu Tuần Thánh" trong mùa Lễ Phục Sinh.
Sống được tròn một năm ở Úc, trải qua bao mùa nghỉ, lễ hội, tôi nhận ra người Tây Phương có cả một lô những ngày lễ, ngày kỷ niệm rất nhiêu khê. Nào là: Quốc Khánh, Adelaide Cup, Sinh Nhật Nữ Hoàng, Lễ Phục Sinh, Lễ Giáng Sinh, Ngày Tình Yêu (Valentine's Day), Ngày Nhớ Ơn Mẹ, Ngày Nhớ Ơn Cha, v.v... Bên cạnh những ngày gọi là Public Holidays, người ta còn có: Sinh Nhật, rồi Anniversary. Nếu cộng thêm các ngày Giỗ, Tết của phong tục tập quán Việt Nam, không khéo người Việt chúng ta được nghỉ dài dài trong năm.
Trong số những lễ hội của người Úc, tôi thích nhất ngày Nhớ Ơn Cha và ngày Nhớ Ơn Mẹ. Hai ngày này gợi cho tôi hai tâm trạng khác nhau. Bởi vì tôi là người mồ côi mẹ từ năm tám tuổi. Theo tôi hiểu, trước khi qua đời nhờ tài quán xuyến buôn bán của mẹ tôi, gia đình tôi có được một cuộc sống tương đối sung túc. Nhưng đến năm 1960, khi tôi được tám tuổi thì mẹ tôi ra đi để lại cho bố tôi một đàn con sáu đứa. Đứa nhỏ nhất mới được tám tháng và chưa dứt sữa mẹ. Người lớn nhất thì chưa hoàn tất chương trình trung học. Chỉ nói thế thôi cũng đủ để diễn tả sự khó nhọc của bố tôi với chị em chúng tôi là dường nào.
Chị em chúng tôi gồm sáu người vẫn thường gọi bố tôi bằng "Thầy". Tiếng "Thầy" xuất hiện nhiều trong những cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn. Thầy mẹ, thầy bu, thầy u tùy theo từng vùng. Riêng chúng tôi gọi song thân của mình là Thầy mẹ.
Thầy tôi là chỗ dựa vững chãi của sáu chị em tôi từ ngày mẹ tôi mất đi. Khác với những người đàn ông bình thường, Thầy tôi ở vậy nuôi con cho đến lúc tuổi già. Điều này vẫn là niềm hãnh diện của chị em chúng tôi, và là bằng chứng cho chúng tôi biết Thầy tôi yêu chúng tôi vô cùng. Đối với công ơn của Thầy tôi, tôi tự nghĩ mình không đủ khả năng để diễn đạt hết được, nên tôi không làm công việc kể công bình thường ấy. Tôi chỉ xin kể những tình cảm mà Thầy tôi dành cho chúng tôi, không phải một năm một tháng, mà cho đến khi tàn hơi, cuối đời.
Tháng 10 năm 2002, thầy tôi trở bệnh nặng. Căn bệnh ngặt nghèo đã khiến cho chị em chúng tôi nhận ra một điều bất hạnh nhất trong cuộc đời, đó là ngày chúng tôi sẽ mất Thầy tôi.
Nghe tin Thầy tôi bịnh, hai anh em chúng tôi, những người ở xa quyết định về thăm Thầy tôi, cũng là dịp để cụ có cơ hội gặp lại tất cả con cái. Chính trong chuyến về thăm này tôi mới khám phá ra một điều quý báu nữa nơi Thầy tôi, đó là một nội tâm mãnh liệt. Điều này tôi sẽ kể đến sau.
Vào tháng 12 cùng năm đó, vợ chồng tôi lại về thăm cụ. Chúng tôi không có dịp phụng dưỡng cụ một cách đầy đủ, vì mình vụng về, ngờ nghệch và thiếu biến báo. Nhưng ít ra là có dịp được ở bên Thầy tôi.
Ngày tôi từ biệt gia đình về Sài Gòn chuẩn bị sang Úc là những ngày đau buồn nhất trong đời tôi. Hôm nay đã gần hai năm trôi qua, ngồi đây viết những dòng chữ này, tôi vẫn còn xúc động. Hình ảnh Thầy tôi gầy guộc, những lời Thầy tôi dặn dò, lo lắng cho tôi, thằng con đã hơn 50 tuổi đầu, vẫn còn như hiện diện đâu đây, rất rõ, rất gần. Hai đêm trước ngày chia tay, Thầy tôi lên giường đi ngủ sớm. Tôi cố nén tình cảm nên thường thức khuya chuyện trò với chị và các em. Tôi đâu biết, Thầy tôi vào trong giường và nức nở khóc mỗi đêm. Linh tính báo cho cụ biết lần gặp gỡ này có thể là lần cuối. Tôi không cầm được nước mắt, nên đã nắm tay Thầy tôi và bất chợt òa khóc như một đứa bé lên ba. Tôi biết mình sắp sửa đánh mất một báu vật trong cuộc đời, đó là Thầy tôi.
Trong bảy người con của cụ, ngoài ông anh tôi đã chết khi còn nhỏ, có lẽ tôi là người sống ở bên Thầy tôi ít nhất. Hai mươi tám năm sống ở Việt Nam, tôi đã sống xa nhà hơn mười năm cộng với năm năm sống với gia đình riêng của tôi, tôi chỉ còn vỏn vẹn có mười ba năm sống bên Thầy tôi. Tôi tự nghĩ mình là đứa con "đi hoang" nhất trong tất cả những đứa con của cụ. Nhưng không vì thế mà tình cha con tôi không đậm đà, thắm thiết. Thầy tôi thương tôi không kém những đứa con khác. Sự hy sinh của cụ đối với tôi có khi còn bao la hơn. Vì trong sáu chị em còn sống, tôi là người duy nhất hoàn tất chương trình đại học, do công nuôi nấng của Thầy tôi, người đàn ông góa vợ từ khi còn rất trẻ. Những người con khác hoặc lên đường nhập ngũ như bao thanh niên trong thời chiến, hoặc do hoàn cảnh đất nước, nên không có cơ hội học hành đến nơi đến chốn. Nhưng tôi lại là đứa con vụng về trong việc diễn đạt tình cảm của mình đối với Thầy tôi hơn ai hết. Đôi lúc tôi vặn hỏi Thầy tôi có buồn lòng vì đứa con vô tình, lạnh lùng đi bên cạnh cuộc đời cụ không. Bao giờ cụ cũng dịu dàng bảo "Đứa nào tao cũng thương như nhau hết".
Thầy tôi là con người sống theo đạo đức của một người Ki-Tô Hữu với một ý nghĩ rất bình thường, đó là "Con chỉ muốn đời đời cảm tạ Chúa". Cụ thường chỉ xin cùng Chúa cho mình hết lòng yêu mến Chúa. Suốt cuộc đời của cụ là những lời cảm tạ không ngừng. Trên giường bệnh, cụ luôn miệng nói với con cái "bằng tuổi này tôi còn đòi hỏi gì thêm nữa. Chỉ xin suốt đời cảm tạ hồng ân Thiên Chúa". Đời của cụ là một bài ca của con người "nghèo hèn trước mặt Thiên Chúa". Cụ không ước mong gì ngoài ơn vững lòng cậy trông đến cùng.
Tôi học ở Thầy tôi nhiều điều quý báu, nhưng chỉ xin kể ra ba điều nổi bật, đó là lòng cậy trông, sự thành thật tuyệt đối và một nội tâm mãnh liệt. Tôi xin dẫn chứng bằng những sự kiện nổi bật mà tôi vẫn còn nhớ.
Lòng cậy trông được thể hiện qua những gian nan của cuộc đời mà cụ không bao giờ ngã lòng, chỉ biết cầu nguyện và vững tin vào một sức mạnh thiêng liêng sẽ giúp cụ vượt qua những khó khăn đó.
Sự thành thật tuyệt đối, qua một lần khi nghe tôi thi đậu tuyển sinh vào trường công tác xã hội ở đường Vĩnh Viễn và có ý định bỏ nghề sư phạm, cụ đã nhất định can ngăn. Theo cụ, làm nghề công tác xã hội khó mà tránh khỏi những cạm bẫy của tham ô, cắt xén công quỹ. "Dù gì đi nữa, nghề dạy học cũng cao cả và dễ xét mình hơn anh ạ" Đó là lời cụ khuyên tôi.
Một nội tâm mãnh liệt được chứng tỏ qua hơn bốn mươi năm sống cuộc đời độc thân. Khi mẹ tôi mất, cụ chỉ mới vừa được ba mươi lăm tuổi và có thừa khả năng để đi thêm một bước nữa, nhưng cụ ở vậy nuôi con. Cụ thường bảo chúng tôi "Không phải là tôi không có cám dỗ đâu. Con người chứ đâu phải thần thánh gì. Nhưng tôi phải cố gắng vượt qua chỉ vì muốn hy sinh cho các anh, các chị mà thôi". Trước kia chị em chúng tôi hiểu lờ mờ về câu nói này. Cho đến tháng 10 năm 2002, khi có dịp đoàn tụ tất cả gia đình, cụ đã bất ngờ yêu cầu người anh lớn nhất của tôi cầm kéo cắt sợi dây thòng lọng buộc ngang thắt lưng mình. Chiếc dây này tôi thấy giống như những chiếc dây mà các thầy dòng khổ tu Công Giáo ngày xưa dùng để đánh tội. Trong hơn bốn mươi năm dài, mỗi lần bị cám dỗ, Thầy tôi đã bám chặt vào chiếc dây ấy như một lời nhắc nhở về tình yêu dành cho mẹ tôi. Nhờ đó, Thầy tôi đã can đảm vượt qua những thử thách của xác thịt loài người. Thầy tôi sống vững vàng và luôn nuôi một niềm hi vọng sẽ được hội ngộ với mẹ tôi. Ngày hội ngộ ấy, Thầy tôi sẽ hãnh diện và mẹ tôi chắc cũng sung sướng vì người chồng thủy chung.
Tôi đang sống trong một xã hội với biết bao chuyện xảy ra tưởng chừng như làm lung lay đến tận gốc rễ nền tảng quý giá của gia đình, như cha mẹ hãm hiếp con cái, con cái bất phục tùng cha mẹ. Thậm chí con cái hãm hại cha mẹ chỉ vì những tờ di chúc béo bở, những của cải vật chất tầm thường.
Rất may, bên cạnh đó, chúng ta vẫn còn được chứng kiến biết bao hình ảnh đáng quý như những báu vật mà Thượng Đế riêng tặng cho con người. Gần đây nhất là hình ảnh của người nữ vô địch giải quần vợt Wimbledon, cô Sharapova(1). Rồi hình ảnh tuyệt vời của người cha trong cuốn phim "Người Dũng Sĩ thành Troy"(2) đã khiến cho bao khán giả phải rơi lệ. Tất cả nhắc cho tôi một điều quý báu nhất trong đời, đó là tình thương của thầy tôi đối với chúng tôi.
Tôi chợt nhớ đến câu nói của người Bố Già trong phim The Godfather " A man who doesn't spend time with his family can never be a real man." (Người đàn ông nào không dành thời giờ cho gia đình mình không thực là đàn ông). Thầy tôi không giàu sang như vị quân vương trong phim Troy, cũng không có tài huấn luyện chúng tôi trở thành người chơi quần vợt nổi tiếng, nhưng thầy tôi thực là người đàn ông đúng nghĩa trong câu nói bất hủ này. Tôi muốn cho con cháu tôi rồi đây sẽ không bao giờ quên được hình ảnh đáng kính của Thầy tôi. Riêng cá nhân tôi, những đức tính của Thầy tôi cũng quá đủ để làm hành trang quý giá cho cuộc đời mình, chứ chưa cần phải kể đến những công ơn to lớn của Thầy tôi. Có điều chắc chắn rằng, tôi sẽ chẳng bao giờ đạt được một lòng cậy trông và một nội tâm mãnh liệt như Thầy tôi.
Phan Anh.
Adelaide - Mùa Đông 2004
Cước chú:
(1) Tân vô địch quần vợt giải Wimbledon 2004, cô Sharapova. Sau khi đánh bại tay vợt số một William người Mỹ, việc đầu tiên mà Sharapova đã làm là chạy lên khán đài ôm lấy cha mình để tỏ lòng cám ơn. Rồi sau đó cô cố gắng điện thoại nói chuyện với mẹ mình, nhưng không bắt được đường dây.
(2) Trong phim " Troy", vị quân vương đã giả dạng thường dân, bất chấp hiểm nguy, đang đêm đi vào trong lòng địch, quỳ dưới chân kẻ thù, van xin để được đưa xác vị hoàng tử con mình về tẩm liệm và cầu nguyện cho nó. Ông đã nói một câu hết sức cảm động với kẻ đã giết chết con mình "Tôi yêu nó từ khi nó mở mắt chào đời cho đến khi anh khiến nó phải nhắm mắt lìa trần".
|