Lý Tưởng Hòan Thiện

Chúa Nhật 7 Thường Niên Năm A
Mt 5:38-48

Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu đã loan báo rằng Ngài đến không phải để bãi bỏ lề luật, nhưng là để kiện toàn lề luật(Mt 5:17). Mục đích của lề luật là để điều hòa các mối quan hệ xã hội và quyền lợi cùng trách nhiệm của mọi người trong một tập thể. Không có luật lệ, xã hội sẽ rối loạn và bất an; đời sống sẽ không hạnh phúc.

Dân Do Thái cũng cần luật lệ để sống phù hợp với ý Chúa và hòa thuận với nhau. Những luật lệ của họ tuy đem lại lợi ích cho đời sống chung, giúp họ tuân giữ giao ước của Chúa và đi đúng đường lối của Ngài, nhưng luật lệ đó vẫn còn những giới hạn và cần được kiện toàn. Chúa Giêsu đã làm việc này bằng cuộc sống, giáo huấn và nhất là cái chết của Ngài.

Chúa Giêsu Kitô vẫn chấp nhận những luật lệ của Cựu Ước, bởi vì đó cũng là một phần quan trọng của mặc khải. Đó cũng là phần quan trọng để giúp cho dân Chúa sống với Chúa và với nhau. Chính vì thế, chúng ta vẫn tuân giữ mười điều răn là những luật căn bản của người Công Giáo. Bên cạnh đó, những giáo huấn khác của Cựu Ước vẫn có giá trị cho chúng ta. Tuy nhiên, Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa. Ngài dạy bảo các môn đệ phải sống công chính hơn các kinh sư (Mt 5:20). Tuy các kinh sư là những người thông hiểu Kinh Thánh và luật lệ, nhưng sự công chính của họ vẫn còn giới hạn. Họ nhắm đến việc áp dụng luật vào tất cả các phạm vi đời sống. Mục đích này lúc đầu rất tốt, vì họ muốn thánh hóa toàn bộ cuộc sống để xứng đáng là dân của Chúa vì Chúa là Đấng thánh(Lv 19:2). Nhưngtheo thời gian, họ rơi vào tình trạng áp dụng luật lệ một cách chi li và cứng ngắc, biến luật lệ trở thành gánh nặng cho người dân.  Như thế họ bỏ mất tinh thần của lề luật là thăng tiến đời sống con người trong tình yêu. Họ quên mất rằng Thiên Chúa là tình yêu, là đấng từ bi nhân hậu, chậm bất bình và giàu tình thương (Tv102:8). Vì vậy, có lần Chúa Giêsu nói: “Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng: "Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta (Mt 15:7-8; Is 29:13).

Luật lệ mà họ tuân giữ vẫn còn giới hạn và chưa biểu lộ hết ý muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu, nên mọi thứ luật lệ phải được đặt căn bản trên tình yêu. Chính tình yêu làm cho người ta thánh thiện. Xét tận căn, một người thánh thiện, tức là một người có lòng yêu mến sâu xa đối với Chúa và yêu mến sâu xa đối với tha nhân. Khi có lòng yêu mến như thế và làm hết mọi điều theo ý Chúa muốn, đồng thời làm mọi điều tốt cho tha nhân, thì người đó là thánh. Do đó, người thánh thiện bao giờ cũng là người sống cho tình yêu.

Vì giới hạn của luật lệ Cựu Ước, nên Chúa Giêsu cần kiện toàn nó bằng giáo huấn của Ngài. Trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa nêu ra những trường hợp cụ thể. Ngài nói đến luật mắt đền mắt răng đền răng mà các môn đệ của Chúa thường được nghe nói đến, nhất là khi tham dự các buổi cầu nguyện và học hỏi Kinh Thánh ở hội đường. Luật này có giá trị riêng của nó. Mục đích là để giới hạn việc trừng phạt và để giữ lại mức tương ứng giữa tội phạm và hình phạt. Từ đó, người ta tránh được bạo động quá mức ((Mt 5:38; Xh 21:24; Lev 24:20; Đnl 19-21).

Ngược lại với luật mắt đền mắt răng đền răng, Chúa Giêsu bảo đừng có trả thù và còn phải quảng đại. Xét về liên hệ giữa người với người, chúng ta thường có thiện cảm với người tốt với mình. Chúng ta yêu mến người yêu mến mình. Chúng ta ghét người xúc phạm đến mình. Nhưng Chúa muốn chúng ta vượt qua khuynh hướng tự nhiên này. Bởi vì nếu chúng ta tin Chúa, thì chúng ta cần làm theo ý Chúa, sống theo gương của Chúa. Thiên Chúa Cha là Đấng giàu lòng thương mến, và tình yêu của Ngài vô hạn. Ngài “cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như người bất chính”(Mt 5:45). Do đó, tình thương của chúng ta cũng cần đi theo đường lối vô hạn như thế.

Nếu Chúa đặt giới hạn vào tình yêu của Ngài, thì chúng ta sẽ chịu thiệt thòi rất nhiều, bởi vì chúng ta phạm tội rất nhiều, nhưng Chúa tiếp tục ban mọi ơn lành để chúng ta có thể sống được; Chúa không trừng phạt chúng ta, như chúng ta trừng phạt nhau hay như xã hội trừng phạt phạm nhân. Chúa vẫn tha thứ chúng ta. Vì lòng nhân từ, Chúa dùng Giáo Hội và những hoàn cảnh khác nhau để kêu gọi chúng ta sám hối và canh tân cuộc sống. Ngay cả việc canh tân cuộc sống cũng là để làm lợi cho chúng ta chứ không làm lợi lộc gì cho Chúa, vì Chúa toàn năng và đầy đủ mọi sự trong chính Ngài.

Khi nói tới yêu mến tha nhân và ngay cả kẻ thù, Chúa Giêsu không bảo chúng ta là phải có tâm tình cảm xúc dạt dào như trong tình yêu mến giữa vợ chồng, con cái hay bạn hữu. Điều này không thể cưỡng ép được. Chúa chỉ dạy chúng ta hãy có một tâm hồn hướng về những điều tốt cho kẻ khác, tức là chúng ta nghĩ tốt, nói tốt và làm tốt cho kẻ khác. Đây là một lý tưởng mà chúng ta cần thực hiện luôn mãi để sống xứng đáng là người môn đệ của Chúa. Điều này không phải một sớm một chiều mà chúng ta thực hiện hết được, nhưng đây là con đường dài mà chúng ta tiếp tục đi qua trong cuộc lữ hànhtrên trần gian này.

Chúa Giêsu dạy dỗ chúng ta không phải chỉ bằng lời nói, nhưng bằng cả cuộc sống và cái chết của Ngài. Ngay như khi còn bị treo trên thập giá, Chúa Giêsu đã tha thứ cho người trộm lành. Chúa cũng tha thứ cho những kẻ đóng đinh Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã đến nhà tù gặp người thủ phạm bắn ngài suýt chết và tha thứ cho anh ta.

Xin cho chúng ta nhìn lên Chúa để học biết quảng đại đối với tha nhân. Xin cho chúng ta biết tha thứ cho những người xúc phạm đến mình từ trong gia đình ra ngoài xã hội. Nếu Chúa luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta, xin cho chúng ta cũng sẵn sàng tha thứ cho người khác. Nếu Chúa luôn quảng đại ban ơn giúp chúng ta trong cuộc sống, thì xin cho chúng ta cũng biết quảng đại giúp đỡ người khác khi họ có nhu cầu. Xin cho chúng ta nhớ đến lời kêu gọi của Chúa Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5: 48).