Dấu Hiệu Môn Đệ

Chúa Nhật 5 Phục Sinh, Năm C
Ga 13:31-35

Anh chị em thân mến,

Trong bữa tiệc ly trước khi chịu khổ nạn, Chúa Giêsu đã nhắn nhủ với các môn đệ những lời lẽ tha thiết chân tình. Ngài dạy bảo họ yêu thương nhau để xứng đáng là môn đệ của Ngài. Tình yêu là dấu hiệu chủ yếu của người môn đệ Chúa Kitô.

Điểm đặc biệt là sau khi Giuđa rời phòng tiệc ly, Chúa Giêsu mới thố lộ tâm tình của Ngài cho các môn đệ. Giuđa ra đi để phản bội Chúa. Sự lựa chọn của Giuđa đã tách rời ông khỏi cộng đoàn môn đệ Chúa Giêsu Kitô. Hành động của Giuđa ra đi để nộp Thầy của mình là một hành động bất trung và chia rẽ. Do đó, ông không thể đón nhận lời nhắn nhủ của Chúa về vấn đề yêu thương.

Hành động của Giu đa dẫn chúng ta tới sự suy nghĩ về các môn đệ khác của Chúa Giêsu Kitô. Họ là những người khác biệt nhau: cá tính khác biệt, suy nghĩ khác biệt và hành động khác biệt. Vì những sự khác biệt này, nên mầm mống chia rẽ lúc nào cũng lởn vởn trong lòng họ, giữa họ và chung quanh họ. Có lần họ đã tranh cãi với nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm (Lc 22:24). Khi khác, họ lại tỏ thái độ ghen tức vì hai anh em Giacôbê và Gioan con ông Dêbêđê muốn được ngồi hai bên tả hữu của Chúa trong Vương Quốc của Ngài. Vì vậy, Chúa phải dạy dỗ họ về bài học khiêm nhường để họ khỏi tranh giành địa vị hay danh giá phàm trần. Đây là một cám dỗ thường xuyên của con người và cũng là một trong những nguyên nhân gây ra chia rẽ trong các cộng đoàn (Mt 20:20-28; Mc 10:35-45)

Chúa Giêsu Kitô biết rằng khi ra đi để về cùng Thiên Chúa Cha, Ngài sẽ không còn hiện diện bằng xương bằng thịt giữa các môn đệ; lúc đó họ sẽ xung đột với nhau. Vì vậy, Ngài trăn trối với chọ bằng những lời tâm huyết. Ngài để lại một di sản tinh thần giúp họ sống xứng đáng là môn đệ của Ngài. Ngài nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:34-35).

Điều răn yêu thương của Chúa Giêsu Kitô xem ra không mới, bởi vì Cựu Ước cũng đã dạy người ta yêu thương (Lv 19:9-18; Đnl 6:5). Yêu thương thì không mới, nhưng cách thức yêu thương thì mới, bởi vì Chúa dạy các môn đệ yêu thương như Ngài đã yêu thương họ. Chúa yêu thương bằng cách trải rộng tình yêu đến hết mọi người không loại trừ ai. Chúa không đặt giới hạn vào sự tha thứ. Chúa tha thứ hết mọi người và bất cứ lúc nào. Chúa cũng cho mọi người hết tất cả; Ngài không giữ lại điều gì, kể cả mạng sống của Ngài. Chính Ngài đã nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13) Chúa không những chết thay cho bạn hữu, nhưng Ngài còn chết để cứu chuộc mọi người tội lỗi, kể cả những kẻ xử tử Ngài.

Lời giáo huấn và gương sáng của Chúa Giêsu Kitô về tình yêu là lý tưởng cho các môn đệ noi theo. Sau khi Chúa lên trời, các tín hữu tiên khởi họp thành cộng đoàn và sống với nhau trong yêu thương. Ho chia sẻ với nhau về tinh thần lẫn vật chất. Họ bỏ chung tiền bạc của cải để mỗi người có thể sử dụng theo nhu cầu của mình. Đời sống của họ hấp dẫn nhiều người gia nhập vào Giáo Hội Chúa (Cv 2:42-47). Theo dòng thời gian, Giáo Hội càng ngày càng phát triển, lối sống cộng đoàn của Giáo Hội tiên khởi chỉ còn giới hạn vào các dòng tu mà thôi. Tuy nhiên, giáo huấn và gương sáng về yêu thương của Chúa Giêsu vẫn là lý tưởng cho mọi người tín hữu xuyên qua thời gian và không gian.

Yêu thương là điều căn bản của cuộc sống. Nhưng để thực hành yêu thương như Chúa dạy, chúng ta cần có một tấm lòng quảng đại luôn hướng về tha nhân. Bởi vì, tình yêu luôn hướng ra bên ngoài để nhắm đến lợi ích của người khác. Trên thực tế, chúng ta thường nhắm đến lợi ích của mình trước tiên. Có lúc lợi ích của mình thôi thúc mạnh quá đến độ chúng ta vô tình làm phương hại tha nhân trong khi tìm kiếm lợi ích riêng tư của mình.

Để có thể cân bằng trong việc yêu mình và yêu người, chúng ta có thể suy nghĩ về một số nguyên tắc. Nguyên tắc thứ nhất: chúng ta làm lợi cho người khác nhưng không làm lợi cũng không làm hại cho mình. Nguyên tắc thứ hai: chúng ta vừa làm lợi cho mình vừa làm lợi cho tha nhân. Như vậy, cả hai cùng có lợi. Nguyên tắc thứ ba: làm lợi cho mình nhưng không làm lợi và cũng không làm hại người khác. Ba nguyên tắc trên đây giúp chúng ta thực hiện cách cụ thể giáo huấn yêu thương. Nguyên tắc thứ ba xem ra chẳng liên quan đến yêu thương bao nhiêu, nhưng theo thực tế, có khi chúng ta chỉ cần tôn trọng những gì người khác đang có và đang sinh hoạt, thì chúng ta cũng thực hiện mức độ tối thiểu của yêu thương. Mức độ tối thiểu này vẫn chưa lý tưởng vì chúng ta vẫn chưa cho người khác cái gì cả. Chúng ta phải dần dà đạt tới nguyên tắc thứ nhất mới phản ánh được tinh thần yêu thương như lời giáo huấn của Chúa.

Song song với tấm lòng quảng đại hướng về tha nhân, chúng ta cần phải có thái độ sẵn sàng từ bỏ ý riêng để theo ý Chúa và theo ý của tha nhân. Chúng ta cần phải biết đặt mình vào hoàn cảnh, lối suy nghĩ và nhu cầu của họ. Tuy nhiên, không phải bất cứ ý kiến nào của người khác chúng ta cũng phải nghe theo. Chúng ta chỉ thuận theo ý kiến nào phù hợp với ý Chúa mà thôi, tức là ý ngay lành; còn những ý kiến trái với lương tâm, đi ngược đạo đức và phản lại ý Chúa, thì chúng ta phải tránh xa. Ý Chúa phải là lý tưởng, là tiêu chuẩn và là thước đo cho mọi ý kiến của loài người. Chỉ khi nào ý kiến của chúng ta hợp với ý Chúa, thì hành động của chúng ta mới đạt được kết quả mang ý nghĩa, niềm vui và hạnh phúc cho đời mình.

Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này, chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ và thực hành giáo huấn yêu thương của Chúa với hết lòng thành. Như vậy, chúng ta mới thực sự là môn đệ của Chúa, như Ngài đã phán: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35).