Đời Sống Chứng Nhân

Chúa Nhật 7 Phục Sinh, Năm C
Lễ Chúa Thăng Thiên
Lc 24:46-53

Anh chị em thân mến,

Lễ Chúa Thăng Thiên là điểm mốc chấm dứt sứ vụ cứu độ của Chúa Giêsu Kitô ở trần gian. Đây cũng là lúc Giáo Hội khởi đầu trách nhiệm rao giảng Tin Mừng mà Chúa trao phó.

Chúa lên trời có nghĩa là Chúa đi vào một cách thế hiện diện khác. Trước đây, trong thân phận nhập thể, Chúa Giêsu Kitô hiện diện bằng xương bằng thịt, nên Ngài chịu sự giới hạn của các định luật vật lý. Ngài chỉ có thể hiện diện ở mỗi nơi chốn một lúc mà thôi. Ngài không thể cùng một lúc ở hai nơi khác nhau. Nhưng bây giờ, Chúa hiện theo cách thế vô hình. Qua phương cách này, Chúa có thể hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc và với mọi người.

Phương cách hiện diện vô hình của Chúa còn đem lại sự thân thiết nhất giữa con người với Ngài. Thân xác là trung gian để con người tiếp xúc với thế giới chung quanh và với tha nhân. Vì là trung gian nên thân xác luôn là một giới hạn, một ngăn trở cho sự kết hiệp sâu xa. Khi vượt qua sự giới hạn của thân xác, Chúa hiện diện và liên kết mật thiết với chúng ta trong mức độ sâu thẳm nhất, trong tận cùng của bản chất con người chúng ta. Sự liên kết đó sâu xa hơn sự liên kết giữa vợ chồng với nhau trong đời sống hôn nhân. Nhờ cách thế hiện diện thần linh đó, nên Chúa Giêsu Kitô cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cư ngụ trong tâm hồn chúng ta và đưa chúng ta vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đặc biệt, mỗi lần chúng ta rước lễ là mỗi lần chúng ta được tham dự mật thiết với Ngài.

Việc Chúa lên trời còn đem đến cho chúng ta niềm hy vọng sẽ được tham dự vào đời sống vĩnh cửu mai sau. Chúng ta sẽ không đi vào ngõ cụt khi chấm dứt cuộc sống trần thế, nhưng sẽ được hưởng phúc Thiên Đàng với Ngài. Lời nguyện nhập lễ của lễ Chúa Thăng Thiên xác định rằng Chúa Giêsu Kitô là Thủ Lãnh, là Đầu của Giáo Hội đã đi trước vào cõi thần linh. Ngài đi trước mở đường để chúng ta là những chi thể của Ngài được nối gót theoNgài vào hưởng phúc vinh quang muôn đời.

Trước khi siêu thăng, tức là lên trời, Chúa Giêsu trao cho các Tông Đồ sứ mạng làm chứng nhân cho Ngài. Họ phải rao giảng về cuộc đời và giáo huấn của Ngài, nhất là cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa. Họ phải kêu gọi người ta tin vào Chúa Giêsu Kitô và sám hối để được ơn tha tội. Nhờ đó, họ được cứu độ để sống hạnh phúc với Chúa ở đời này và đời sau. Đó là sự sống đời đời cho các tín hữu mà Chúa Giêsu nói đến trong lời cầu nguyện của Ngài. Sự sống đời đời có nghĩa là nhận biết Thiên Chúa Cha là Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Chúa  Giêsu Kitô là Đấng mà Thiên Chúa Cha sai đến thế gian (Ga 17:3). Ở đây, việc nhận biết không phải chỉ là thứ hiểu biết theo lối biết về một mẩu tin để thỏa mãn tính hiếu kỳ của loài người, nhưng là một sự dấn thân trọn vẹn cho người mình biết. Nhận biết ở đây có nghĩa là nhận biết Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu Kitô và thực hành ý Chúa. Đó là sự nhận biết trọn vẹn về Chúa. Sự nhận biết trọn vẹn này đặt chúng ta ở vào quan hệ với Chúa. Đó là sự sống đời đời, bởi vì quan hệ với Chúa ở đời này sẽ kéo dài mãi cho đến cõi trường sinh, cho dù chúng ta phải trải qua sự chết để giã từ khung cảnh giới hạn của trần thế. Chính Chúa Giêsu Kitô cũng đã trải qua thập giá để vào vinh quang muôn đời.

Qua các Tông Đồ, Giáo Hội đón nhận sứ mạng làm chứng nhân cho Chúa Giêsu Kitô. Là những là phần tử của Giáo Hội, chúng ta cũng có trách nhiệm làm chứng nhân cho Ngài. Việc làm chứng nhân đòi hỏi ba yếu tố. Yếu tố thứ nhất là hiểu biết về cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu, hiểu biết các giáo huấn của Giáo Hội, vì Giáo Hội trình bày sự hiểu biết của mình về Chúa Kitô cho các tín hữu. Nói cách khác, trách nhiệm làm chứng nhân đòi hỏi chúng ta phải có kiến thức về đức tin. Chúng ta không thể nói về Chúa, về Giáo Hội hay về những gì chúng ta tin, nếu chúng ta không hiểu biết gì về giáo lý.

Yếu tố thứ hai là sự gắn bó mật thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi trong công việc thờ phượng. Thánh Lễ và kinh nguyện là điều cần thiết để chúng ta yêu mến Chúa với cả tâm hồn và gắn bó mật thiết với Ngài. Qua đời sống thờ phượng, chúng ta đón nhận ân sủng của Chúa, đồng thời chúng ta được phấn khởi để sống theo lời Chúa. Thật vậy, khi gần gũi mật thiết với ai, chúng ta có tình cảm sâu xa với người đó. Rồi từ đó, chúng ta cảm thấy hứng thú để làm những gì họ mong muốn. Đối với Thiên Chúa cũng vậy, đời sống thờ phượng giúp chúng ta yêu mến Ngài và thực hành lời Ngài.

Yếu tố thứ ba là thực hành giáo huấn của Chúa. Khi thực hành giáo huấn của Chúa chúng ta nêu gương sáng cho những người chung quanh. Ở thời đại nào cũng vậy, hành động vẫn luôn là bằng chứng hùng hồn về đức tin của người tín hữu. Trong thời đại thực nghiệm hiện nay, gương sáng của người tín hữu còn là điều kiện quan trọng hơn nữa trong việc rao giảng Tin Mừng và làm chứng nhân cho Chúa Giêsu Kitô.

Hôm nay cũng là Ngày Hiền Mẫu, là ngày tri ân các người mẹ. Việc tri ân các người mẹ phù hợp với giáo huấn của Chúa, bởi vì trong mười điều răn của Chúa, điều răn thứ tư dạy chúng ta thảo kính cha mẹ. Giáo huấn này cũng thuộc về nội dung của đạo hiếu trong văn hóa Việt Nam.

Chúng ta cám ơn các bà mẹ còn sống cũng như đã qua đời vì tình thương và công lao sinh thành dưỡng dục của các ngài. Chúng ta được nhắc nhở để thực hành đạo hiếu. Qua những việc làm của chúng ta đối với các người mẹ, chúng ta chu toàn ý Chúa, đồng thời nêu gương sáng cho con cái cháu chắt và người chung quanh. Đó là làm chứng nhân cho Chúa một cách cụ thể và hùng hồn. Chúng ta cũng xin Chúa ban cho các bà mẹ quá cố được hưởng hạnh phúc trường sinh trên Thiên Đàng.

Xin cho mỗi người chúng ta được trở nên những chứng nhân hữu hiệu cho Chúa. Nhờ đó, nhiều người nhận biết và tôn thờ Ngài để được hưởng sự sống đời đời như Ngài đã hứa ban cho những ai nhận biết Ngài.