Ý Nghĩa Phục Sinh

Anh chị em thân mến,

Phục Sinh là ngày lễ quan trọng nhất của Giáo Hội, vì đây là nền tảng cho đức tin và lý do hiện hữu của Giáo Hội. Không có Phục Sinh sẽ không có đức tin. Không có đức tin sẽ không có Giáo Hội. Lễ Phục Sinh xác định bản chất của Giáo Hội và trao cho Giáo Hội sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ cho toàn thế giới.

Trong đêm Phục Sinh, chúng ta trải qua những cảm nghiệm đầy ý nghĩa từ việc cử hành phụng vụ. Cây nến Phục Sinh sáng lên đại diện cho Chúa Kitô. Ngài chính là ánh sáng thế gian, xua tan bóng đêm của sợ hãi, đau khổ và sự chết.

Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô xác định một số điều. Thứ nhất, qua sự Phục Sinh, Chúa Giêsu chứng tỏ Ngài đến từ Thiên Chúa. Ngài chính là Thiên Chúa Nhập Thể. Chính Ngài đã từng nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11:25). Khi khởi đầu sứ vụ rao giàng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã được sự công nhận từ trời cao qua lời tuyên bố của Thiên Chúa Cha: “Đây là con yếu dấu của Ta”. (Mt 3:17; Mc 1:11; Lc 3:22) Lời tuyên bố này cũng được lặp lại trên núi Tabo khi Chúa Giêsu cầu nguyện và biến hình (Mt 17:5; Mc 9:7; Lc 9:35). Lời công bố đó vừa xác định thiên tính của Chúa Giêsu vừa là lời hứa. Lời hứa đó đã trở thành sự thật qua cuộc khổ nạn và phục sinh. Chúa Giêsu đã chứng tỏ Ngài là con yêu dấu khi vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Thiên Chúa đã giữ lời và đã cho Chúa Kitô sống lại từ trong kẻ chết.

Thứ hai, sự Phục Sinh của Chúa Kitô cũng là bằng chứng rằng con người có cơ hội được ơn cứu độ. Vỉ nếu Ngài không sống lại, chúng ta sẽ không được cứu độ, và sẽ phải chết trong tội lỗi, và chết muôn đời. Khi sự sống trần thế chấm dứt, chúng ta sẽ không được hạnh phúc trường sinh như lòng chúng ta hằng mong ước. Chúng ta không có niềm hy vọng vì chúng ta sẽ không biết mình sẽ đi về đâu. Vì thế, sự phục sinh của Chúa là cánh cửa mở ra cho chúng ta bước vào đức tin. Có đức tin, thì chúng ta có hy vọng, vì chúng ta có mục đích ở cuối cuộc đời. Chúng ta không chấm dứt cuộc sống ở trong ngõ cụt hay trong khung trời vô định, nhưng là bước vào nhà Cha trên trời.

Thứ ba, sự Phục Sinh cũng cho chúng ta thấy đau khổ và sự chết không phải là chuyện tuyệt đối. Thất bại cũng không là điều tận số. Nhưng đau khổ, sự chết hay thất bại cũng mở ra một con đường khác, một sự sống mới cho cho chúng ta. Chúa Kitô đã nêu gương cho chúng ta. Khi chịu khổ nạn và chịu chết như một phạm nhân ô nhục trên khổ hình thập giá, Chúa Kitô xem ra thất bại. Lúc đó mọi điều Ngài nói, mọi việc Ngài làm, mọi hy vọng Ngài khơi lên đều tan thành mây khói. Nhưng khi ngài sống lại, tất cả những gì trong cuộc đời của ngài bỗng trở thành có ý nghĩa. Ngài trở thành con đường, sự thật và sự sống cho mọi người. Như thế, thất bại của Ngài đã trở thành chiến thắng. Ngài phục sinh không phải để trở về với sự sống cũ trong vòng giới hạn trước đây, nhưng là đi vào sự sống mới, sự sống đời đời.

Phục Sinh của Chúa Kitô thông truyền sự sống cho chúng ta. Bởi lẽ Ngài cho chúng ta niềm hy vọng. Chúng ta sẽ không bị vùi dập dưới thất bại, nhưng sẽ có cơ hội vươn lên. Thất bại về phạm vi này, nhưng sẽ là con đường mở ra chân trời thành công khác. Ngay như ngôn ngữ văn hóa chúng ta cũng có câu: không thành công cũng thành nhân; hoặc “thất bại là mẹ thành công”. Chính vì thế, phục sinh đem lại niềm lạc quan cho chúng ta.

Phục sinh cũng cho chúng ta niềm hy vọng về tình yêu. Tình yêu bao giờ cũng tìm sự kết hợp, lúc nào cũng nhắm đến đoàn tụ. Nhưng tình yêu vẫn bị bóng mây của sự chia ly và màn tối của sự chết ám ảnh. Chính vì thế, sự phục sinh của Chúa Kitô là bảo đảm cho chúng ta được sống muôn đời. Trong sự sống vĩnh cửu đó, chúng ta sẽ đoàn tụ với nhau trong tình yêu chúa và yêu người. Cho nên cái chết trên trần gian chỉ là một đau khổ ngắn ngủi trước khi cảm nếm niềm vui muôn đời, nó chỉ là một màn đêm đang chờ ánh sáng của lúc bình minh mà thôi.

Phục sinh cũng cho ta niềm hy vọng về công bình. Nếu không có phục sinh, chúng ta sẽ bế tắc trong đau khổ và bất công. Những cố gắng để sống theo lương tâm, những nỗ lực trải rộng tình bác ái sẽ vô nghĩa, nếu không có sự đền bù tương xứng. Phục sinh cho chúng ta niềm hy vọng rằng, những cố gắng của chúng để làm những việc lành phúc đức sẽ không trôi vào quên lãng, nhưng luôn được Thiên Chúa ghi nhận và trả công bội hậu cho chúng ta ngay đời này và cả đời sau (Mt 25 31-46;

Hôm nay mừng lễ Phục Sinh, chúng ta hợp với Giáo Hội để hân hoan và hy vọng. Chúng ta xác định lại niềm tin của mình. Đây là điều quan trọng, nhất là trong năm đức tin này. Khi xác định lại đức tin của mình, chúng ta quyết tâm sống niềm hy vọng phục sinh. Chúng ta sẽ tìm những sự trên trời chứ không tìm những sự dưới đất (Cl 3:1). Những sự trên trời mới là mục đích, còn những sự dưới đất chỉ là phương tiện mà thôi. Có những sự dưới đất cũng không thể trở thành phương tiện để giúp chúng hướng về sự thiện; chúng cần phải bị loại bỏ như loài cỏ dại để cho cây cối trổ sinh hoa trái.

Khi chúng ta sống hy vọng và thực thi lời Chúa, chúng ta cũng truyền thông sự sống cho người chung quanh, nhờ đó họ sống trong hy vọng và hân hoan. Như thế, chúng ta đem ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô chiếu giãi vào những góc tối của trần gian. Chúng ta không làm một mình, nhưng cùng làm với Chúa Kitô. Ngài đồng hành với chúng ta như Ngài đã đồng hành với hai môn đệ trên đường Emau (Mc 16: 12-13; Lc 24:13-35). Ngài hiện diện với Giáo Hội như Ngài đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20. Ngài chính là ánh sáng thế gian soi chiếu cuộc đời chúng ta trong cuộc hành trình đi về cõi muôn đời.