Biết Mình Để Thăng Tiến

Chúa Nhật 4 Thường Niên, Năm C
Lc 4:21-30

Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu về Nadarét và giảng dạy trong hội đường vào ngày Thứ Bảy. Mọi người đều thán phục vì những lời Ngài nói (Lc 4:22). Dân Nadarét chuyển biến thái độ từ ngạc nhiên đến tự hào; từ tự hào đến đòi hỏi; từ đòi hỏi đến phẫn nộ; từ phẫn nộ đến bạo động. Tấ cả đều là kết quả của một định kiến vốn có từ lâu.

Dân Nadarét ngạc nhiên và bảo nhau: “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?” (Lc 4:22). Họ ngạc nhiên là phải, vì họ biết về gia cảnh của Chúa Giêsu. Gia đình Ngài sống khiêm tốn. Thánh Giuse làm nghề thợ mộc để nuôi gia đình. Chúa Giêsu cũng theo nghề thợ mộc, Hoàn cảnh không có gì xuất sắc. Ngài rời làng một thời gian. Nay trở về, Ngài đã khác trước, có danh tiếng và có khả năng ăn nói khôn ngoan. Họ tự hào về Ngài vì Ngài là người đồng hương.

Một mặt họ tự hào về Ngài, nhưng mặt khác họ đòi Ngài phải làm phép lạ tại Nadarét. Đối với họ, Nadarét phải có quyền ưu tiên. Vì Chúa Giêsu là người Nadarét, nên Ngài phải thực hiện phép lạ để làm thỏa mãn sở thích của họ. Nhưng Chúa Giêsu không chiều theo họ. Ngài không muốn bị họ chiếm hữu, Ngài không muốn bị họ giật dây theo những toan tính riêng tư của họ. Ngài cũng muốn cho họ thấy rằng Ngài có tự do để hành động theo sự suy nghĩ của Ngài. Hơn nữa, Ngài đến không phải chỉ để chăm sóc người thân kẻ quen, nhưng là để trải rộng tình thương đến tất cả mọi người, kể cả những người ngoại, tức là những người không phải Do Thái.

Ngài nêu ra hai thí dụ để trình bày quan điểm của Ngài. Lúc hạn hán ba năm rưỡi, thì ngôn sứ Êlia chỉ được sai đến giúp bà góa ngoại giáo thành Xarépta miền Xiđôn. Cũng thế, vào thời ngôn sứ Êlisa chỉ có ông Naaman xứ Xyri được chữa khỏi bệnh phong mà thôi. Điều này cho thấy Chúa không bị ràng buộc bởi quan niệm của loài người. Không thể vì được Chúa chọn, nên dân Do Thái phải luôn có đặc quyền đặc lợi. Khi nghe Ngài nói như thế, dân làng Nadarét đã phẫn nộ và muốn xử tử Ngài, nhưng họ không làm gì được. Thái độ của dân làng Nadarét là kết quả của định kiến đồng hương và định kiến ưu việt dân tộc.

Cách cư xử của dân làng Nadarét cũng có chỗ tương đồng với lối sống của con người thời nay. Một trong những điểm chúng ta cần suy nghĩ là sự quen thuộc. Khi đã quen thuộc một điều gì hay một người, chúng ta giảm bớt sự phấn khởi và quý trọng, có khi còn có thái độ coi thường. Vì sự quen thuộc thường dẫn đến việc coi thường. Sự quen thuộc làm cho chúng ta có định kiến. Định kiến là lối suy nghĩ cố định, cứng ngắc về một điều gì hay một người. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta biết hết rồi về điều đó hoặc người đó, cho nên không cần phải biết thêm gì nữa. Định kiến làm cho phán đoán trở nên nông cạn, hành động thiếu sáng suốt, rồi gây ra hiểu lầm, chia rẽ hoặc bạo động. Dân làng Nadarét đã hành động theo định kiến. Họ chỉ biết Chúa Giêsu là người thợ mộc đồng hương. Từ đó, họ mong chờ Ngài phải làm phép lạ như Ngài đã từng làm tại Caphácnaum. Dân Nadarét cũng mang quan niệm ưu việt dân tộc, nghĩa là họ tự coi mình cao trọng hơn các dân khác vì là họ là dân được Chúa tuyển chọn; bởi thế, họ cũng khó chịu khi Chúa Giêsu cho thấy rằng Thiên Chúa không bị lệ thuộc vào quan niệm ưu việt đó. Thiên Chúa giúp đỡ bà góa miền Xiđôn hay ông Naaman người Xiri, là vì họ có nhu cầu, và vì Ngài có tự do để hành động, chứ không bị ràng buộc vào quan niệm, nhu cầu và đời sống của dân Do Thái.

Quan sát thái độ của dân làng Nadarét thúc đẩy chúng ta xem lại sự suy nghĩ của mình, vì bất cứ ai cũng dễ sa vào tình trạng định kiến. Chúng ta cần xét mình thường xuyên để được khách quan trong sự suy nghĩ và sáng suốt trong hành động của mình. Chúng ta mang danh là người Công Giáo, là người đạo gốc (có nơi còn gọi là đạo dòng), nhưng thử hỏi chúng ta chúng ta biết Chúa được bao nhiêu? Khi nói biết Chúa, chúng ta có thể đặt vấn đề: Chúa cao siêu làm sao chúng ta biết được? Mặc dầu Chúa cao siêu, nhưng Chúa đã ban cho chúng ta trí khôn để chúng ta sử dụng mà hiểu biết phần nào về Ngài qua việc suy nghĩ về vũ trụ và sinh hoạt của con người. Chúa cũng cho chúng ta biết về Ngài bằng cách mạc khải qua các ngôn sứ và qua chính Chúa Giêsu. Mạc khải được lưu truyền qua Thánh Kinh và Thánh Truyền. Điều quan trọng là chúng ta cần học biết về Ngài qua mạc khải.

Hơn nữa cái biết về Chúa không chỉ là sự hiểu biết theo trí khôn. Chúng ta cần biết Chúa theo khía cạnh của trái tim. Đó là lòng mến Chúa, cảm nghiệm về Chúa; đó là dành thời giờ để lắng đọng tâm hồn trong sự hiện diện của Chúa; đó là việc thực hành các giờ kinh nguyện. Thói quen đến nhà thờ hằng tuần và thói quen đọc kinh ở nhà hằng ngày, mặc dầu tốt đẹp, nhưng vẫn chưa đủ nếu chúng ta không chịu tìm cách để dự lễ cách sốt sắng, hoặc không chịu tìm cách để cảm nghiệm về Chúa sâu xa hơn. Chính vì thế, thói quen dễ làm cho chúng ta rơi vào định kiến, nếu nó không được suy đi xét lại thường xuyên. Hậu quả là sự ù lì, lạc hậu và có khi còn gây ra hiểu lầm và xung đột.

Định kiến cũng là cám dỗ khiến đời sống gia đình và các tương quan xã hội gặp khó khăn. Vì quen thuộc, vì định kiến, nên người trong gia đình cứ nghĩ rằng mình biết rõ người thân của mình rồi. Khi người thân của mình thay đổi sự suy nghĩ và hành động của họ, mình trở nên khó chịu bởi vì mình không ý thức được sự thay đổi nơi người thân, và cứ nghĩ rằng người thân vẫn giữ nguyên lối suy nghĩ và hành xử như từ bao giờ. Phần khác, trong khi người thân thay đổi, thì mình vẫn cứ giẫm chân tại chỗ, nên mới tạo ra hai lối suy nghĩ khác nhau, để rồi dẫn đến hai cách cư xử khác nhau. Hậu quả là hiểu lầm và xung đột.

Chúng ta xin cho mình được nhìn lại bản thân để biết mình suy nghĩ như thế nào, sống đức tin thế nào, cư xử trong gia đình ra sao, quan hệ với xã hội thế nào. Nhìn lại bản thân là khởi đầu của sự thăng tiến. Ý thức rằng mình có định kiến về đức tin cũng như về các quan hệ gia đình và xã hội chính là bước khởi đầu để canh tân cuộc sống. Bởi vì, biết mình là chìa khóa để thành công. Biết mình cũng là kim chỉ nam cho việc thăng tiến đức tin. Xin Chúa Thánh Thần soi lòng mở trí để chúng ta được khôn ngoan để nhận biết chính mình, nhận biết Chúa và nhận biết tha nhân.