Xác Định Niềm Tin

Chúa Nhật 3 Mùa Vọng, Năm A
Mt 11:2-11

Anh chị em thân mến,

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường muốn biết hết mọi sự để tổ chức cuộc sống của mình. Tuy nhiên, vì thân phận hữu hạn của con người, chúng ta không biết hết mọi sự. Do đó, chúng ta dự vào lòng tin để sinh tồn và phát triển.

Niềm tin vào khả năng của chính mình, Niềm tin vào sự chân thành và khả năng của người khác, đều là điều thiết yếu để sống. Ngược lại, nếu luôn nghi ngờ, chúng ta sẽ không làm được gì. Giả sử, chúng ta nghi ngờ mọi sự, và chỉ hành động khi nắm chắc việc mình muốn làm, thì chúng ta sẽ chết, vì không có việc nào trên trần thế chắc ăn một trăm phần trăm. Một việc chắc chắn nhất vẫn luôn tiềm tàng một phần may rủi trong đó.

Mặc dầu chúng ta sống bằng niềm tin, nhưng thỉnh thoảng chúng ta lại lâm vào tình trạng nghi ngờ, khi có chuyện xảy ra ngoài dự liệu hay ước mơ của mình. Xét về phương diện tôn giáo cũng vậy, mặc dầu chúng ta tin tưởng vào Chúa và luôn sống đức tin của mình, nhưng thỉnh thoảng những đợt sóng nghi ngờ lại cuộn lên trong tâm hồn chúng ta. Ông Gioan Tẩy Giả cũng không ngoại lệ. Tin Mừng của thánh Máthêu trong Chúa Nhật 3 Mùa Vọng, Năm A trình bày việc Gioan Tẩy Giả sai môn đệ đến hỏi về thân thế của Chúa Giêsu.Thầy có thật là Đấng phải đến hay không hay chúng tôi còn phải đợi một ai khác? Trước câu hỏi này, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp. Ngài bảo các môn đệ của Gioan Tẩy Giả về thuật lại những gì họ chứng kiến, nhưng điều họ mắt thấy tai nghe. Họ đã nhìn thấy người điếc, kẻ mù, người què được chữa lành, người chết được phục sinh, và người nghèo được nghe Tin Mừng. Tất cả những việc Chúa Giêsu làm và những giáo huấn Ngài rao giảng đều là bằng chứng về thân thế và vai trò của Ngài. Chúng ta không biết Gioan Tẩy Giả nghĩ như thế nào. Nhưng từ sự kiện này chúng ta có thể suy nghĩ về đời sống đức tin của mình.

Vấn đề đức tin bị giao động là chuyện bình thường. Tự bản chất, đức tin bao hàm nghi ngờ, bởi vì đức tin chỉ dựa một phần trên sự kiện khách quan, có thể kiểm chứng bằng phương pháp khoa học và bằng suy luận của lý trí. Phần còn lại vượt quá sự hiểu biết của loài người. Khi gặp những lúc giao động, đức tin lung lay, chúng ta cần chứng cớ. Tiếng Việt có câu: “Nói có sách mách có chứng.” Chứng cớ về sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa được phô bày trong vũ trụ và trong thế giới loài người.

Nhìn vào muôn vàn vẻ đẹp của thiên nhiên tâm trí chúng ta được thúc đẩy để hướng về vị nghệ sĩ tối cao đã tạo ra vẻ đẹp của vũ trụ. Suy nghĩ về một hệ thống các luật lệ vật lý trong vũ trụ, chúng ta lại phải hướng về một Đấng Tạo Hóa đã đặt để những luật lệ như thế. Nhờ các luật lệ đó mà con người mới có thể tổ chức cuộc sống, các phát minh khoa học mới xuất hiện, kỹ thuật và máy móc mới được chế tạo để cung cấp các tiện nghi cho con người hưởng dùng. Tất cả những điều đó là dấu chỉ cho sự hiện diện, tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa đối với loài người.

Tuy chứng cớ từ vũ trụ thiên nhiên quan trọng, nhưng vẫn không đủ để đem lại an bình cho tâm hồn trong cơn giao động của đức tin. Một thứ chứng cớ hùng hồn hơn cả chính là đời sống của các vị thánh nhân. Các ngài đã sống trọn vẹn cho Chúa. Các ngài đặt hết niềm trông cậy vào Thiên Chúa và sống theo giáo huấn của Ngài. Niềm xác tín sâu xa vào Thiên Chúa đã thúc đẩy các ngài dấn thân phục vụ tha nhân và đồng thời trung thành với Chúa cho đến cùng dù phải trải qua con đường tử đạo.

Khi nhìn vào đời sống các thánh, chúng ta nhận ra tình yêu và sự thiện hảo của Chúa. Bởi vì đời sống các thánh là dấu chỉ cho vinh quang sống động của Thiên Chúa giữa loài người.

Về phía chúng ta cũng vậy, không những chúng ta cần nhờ vào các thánh để vững lòng tin, nhưng chúng ta cũng được kêu gọi để làm chứng cho Thiên Chúa và tình yêu của Ngài ở giữa thế gian. Đời sống của chúng ta cũng phải trở nên chứng cớ hùng hồn về đức tin. Thái độ, lời nói và hành động của chúng ta phải trở nên dấu chỉ hữu hiệu để giúp tha nhân xác tín vào Chúa.

Thánh Gioan Tẩy Giả là vị Tiền Sứ đi trước để dọn đường cho Chúa đến. Ông đã làm hết sức mình. Ông sống theo những điều ông nói. Ông đã chết vì ông gióng lên tiếng nói của luân lý. Ông đã trung thành cho đến cùng. Trong khi chuẩn bị đại lễ Giáng Sinh, mỗi người chúng ta cũng được nhắc nhở về phận vụ của mình, tức là dọn đường cho Chúa đến. Trước hết, chúng ta dọn tâm hồn và cuộc sống của mình để Chúa ngự vào. Trong thời buổi kinh tế thị trường và chủ nghĩa hưởng thụ lên ngôi, người ta thường nghiêng về những gì hào nhoáng bên ngoài, người ta sống nhanh sống vội trên bề mặt rất nhiều. Trước hoàn cảnh đó, mỗi người tín hữu đều cần chuẩn bị Giáng Sinh theo con đường hướng về nội tâm và ý nghĩa của mùa đại lễ này. Trong khi người ta coi Giáng Sinh như một thời gian buôn bán kiếm lời và để vui chơi giải trí, thì người tín hữu cần suy nghĩ về ý nghĩa sâu xa của Giáng Sinh.

Mục đích của Giáng Sinh không phải là để buôn bán hay hưởng thụ, nhưng là việc Thiên Chúa yêu thương loài người đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho trần gian, để ai tin vào Người Con, thì được cứu độ. Thành ra, chúng ta cần cảm nghiệm sâu xa về tình yêu của Chúa đối với mình. Và để xứng đáng với việc Chúa đến, chúng ta hướng lòng về Chúa, liên kết sâu xa với Ngài. Cùng một lúc chúng ta noi gương Chúa để yêu thương và sống khiêm nhường, như Ngài đã tự hạ vì yêu thương chúng ta.

Nếu chúng ta chuẩn bị tâm hồn sốt sắng, thì việc mừng đại lễ Giáng Sinh sẽ đem đến ý nghĩa sâu xa cho cuộc đời chúng ta. Chúng ta sẽ cảm nghiệm niềm vui thú sâu xa chứ không chỉ là những sôi động hời hợt bên ngoài. Không những thế, chúng ta sẽ làm cho người khác cũng cảm nghiệm được sự hiện diện và tình yêu của Chúa ngay trong cuộc đời của họ. Như Gioan Tẩy Giả, chúng ta cũng sẽ là những tiền sứ cho Chúa trong đời sống hằng ngày của mình.