Dấu Hiệu Của Niềm Tin

Chúa Nhật 2 Thường Niên, Năm C
Ga 2:1-11

Niềm tin là một điều cần thiết trong cuộc sống. Không có niềm tin vào người khác, vào những sự vật, những sinh hoạt trong cuộc sống, chúng ta không thể sống được. Ngay cả những người có thái độ nghi ngờ nhiều nhất vẫn phải đặt niềm tin vào một số điều cần thiết để có thể tiếp tục sống. Dầu vậy niềm tin vẫn cần những dấu hiệu để có thể tin. Đó chính là điều mà Chúa Giêsu dùng để khơi dậy và củng cố niềm tin nơi những kẻ có dịp tiếp xúc với Ngài.

Tin Mừng của thánh Gioan trong Chúa Nhật 2 thường niên năm C trình bày việc Chúa Giêsu được mời dự tiệc cưới tại Cana. Đức Mẹ và các môn đệ của Chúa Giêsu cũng được mời tham dự. Tiệc cưới đang vui, thì gia chủ hết rượu. Đây một chuyện ngoài ý muốn nhưng thật là tai hại, vì nó có thể làm mất thể diện cho gia chủ và có thể làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của đôi tân hôn sau này. Chính vì thế, Mẹ Maria đã cậy nhờ Chúa Giêsu giúp đỡ họ. Chúng ta không biết Mẹ Maria có muốn Chúa làm phép lạ không. Tin Mừng không nói rằng Mẹ Maria mong chờ Chúa làm phép lạ. Mẹ chỉ mong chờ Ngài tìm ra cách nào đó để cứu vãn tình thế khó khăn cho gia chủ mà thôi.

Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa nước thành rượu. Đây là một dấu hiệu mang ý nghĩa sâu xa. Thứ nhất, nó là một dấu hiệu để này tỏ tình thương của Chúa đối với người gặp cảnh khó khăn. Thứ hai, dấu hiệu này cũng nhằm mục đích khơi dậy niềm tin nơi những người chưa có niềm tin vào Chúa Giêsu. Nó cũng giúp cho các môn đệ tăng thêm niềm tin. Thứ ba, phép lạ hóa nước thành rượu cũng cho thấy vai trò của Đức Mẹ trong việc cầu thay nguyện giúp cho những ai có nhu cầu.

Phép lạ ở Cana không phải là một hành động ảo thuật để mua vui cho những người chứng kiến. Ngược lại, nó là dấu hiệu để bày tỏ tình thương và trợ giúp niềm tin. Nên nhớ rằng Chúa Giêsu xuất thân từ Nazarét, một ngôi làng tầm thường, không có thành tích nổi bật. Vì vậy, người ta không coi trọng những người xuất thân từ đó. Chính ông Nathanaen đã từng thốt lên: “Từ Nazarét, làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1:46). Bởi thế, dấu hiệu hóa nước thành rượu nhằm giúp người ta đặt niềm tin vào Chúa Giêsu.

Những người trong thời đại khoa học và duy lý của chúng ta cũng vậy. Họ cũng không dễ dàng tiếp nhận niểm tin nếu không có những dấu hiệu xác đáng hùng hồn. Chúng ta không thể dùng phương pháp khoa học để chứng minh niềm tin vào Thiên Chúa, vì Ngài vượt khỏi tầm kiểm soát của khoa học. Không ai có thể biết hoàn toàn về Thiên Chúa, nói chi đến việc kiểm soát Ngài. Ngay cả những gì chúng ta biết về Ngài cũng do Ngài mặc khải cho chúng ta. Vì thế, những gì chúng ta dùng để nói về Chúa hay chỉ về Ngài, thì chỉ đóng vai trò dấu hiệu mà thôi.

Trong những dấu hiệu để giúp người khác biết Chúa, thì đời sống đạo của mỗi người là một dấu hiệu hùng hồn nhất. Bởi vì, niềm tin vào Chúa nhằm mục đích thay đổi nếp sống của con người thành tốt hơn. Nói cách khác, niềm tin vào Chúa giúp cho con người càng ngày càng hướng thiện. Nếu không có sự thay đổi nơi bản thân người tín hữu, thì niềm tin nơi cá nhân đó không có ích lợi gì, và người đó cũng chẳng trở thành dấu hiệu hùng hồn để giúp tha nhân biết Chúa.

Song song với việc niềm tin nhằm thay đổi đời sống, thì phép lạ cũng vậy. Phép lạ cũng nhằm thay đổi đời sống. Nếu một phép lạ không làm thay đổi đời sống cá nhân cho tốt hơn, thì phép lạ đó không hữu hiệu cho người đó. Nó cũng giống như viên thuốc không có có công hiệu cho người bệnh. Bởi đó cho nên, khi chúng ta nghe nói người này người kia chứng kiến phép lạ, chúng ta phải tự hỏi, phép lạ đó có mục đích gì? Mặt khác, phép lạ không thể xảy ra thường xuyên, vì nếu xảy ra thường xuyên, thì nó không còn phải là phép lạ nữa. Thêm vào đó, sách Sáng Thế cho biết, vũ trụ đã được Chúa dựng nên cách tốt lành, có trật tự hẳn hoi. Nên không cần thiết phải làm phép lạ để xáo trộn trật tự vũ trụ. Chi nào Chúa thấy thật cần thiết thì Ngài mới làm phép lạ. Bởi vì nếu Ngài làm phép lạ thườn xuyên, thì hóa ra vũ trụ không tốt lành, nên cần phải nay sửa chỗ này mai đổi chỗ kia. Nếu như thế, thì hóa ra Ngài không toàn năng. Cho nên, vì Chúa tốt lành và toàn năng nên Ngài không làm phép lạ thường xuyên như một số người thích mong chờ.

Đối với chúng ta, niềm tin không nhằm mục đích đi tìm phép lạ, nhưng là để sống. Cha Henry-Dominique Lacordaire OP phân biệt hai loại niềm tin, niềm tin nhân bản và niềm tin thần linh (The Magnificat Year of Faith Companion, ed by Fr Peter John Cammeron OP, p.105). Hai niềm tin này nối kết mật thiết với nhau và nâng đỡ nhau như hai mặt của một đồng tiền. Thật vậy, niềm tin nhân bản là sự tin tưởng tối thiểu vào những người và sự vật chung quanh để chúng ta có thể sống được cuộc sống trần gian. Còn niềm tin thần linh tức là đức tin vào Chúa giúp chúng ta có được sự sống muôn đời. Hai loại niềm tin này đòi hỏi những dấu hiệu tối thiểu để có thể tin trong sự hợp lý. Bởi vì chúng ta không thể tin tưởng một cách mù lòa. Mặt khác, vì không thể thông biết hết mọi sự, mọi người, và cả Thiên Chúa, nên chúng ta cần phải có niềm tin. Vai trò của niềm tin thật then chốt, vì nó mang lại cho chúng ta hy vọng, và hy vọng là yếu tố hết sức cần thiết cho cuộc sống của chúng ta.

Chúa Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu để giữ gìn thể diện cho nhà cưới và niềm vui của khách dự tiệc. Đây cũng là dấu hiệu mà Ngài dùng để hỗ trợ niềm tin cho những người chứng kiến. Chúng ta cũng xin Chúa cho mình thấy những dấu hiệu trong đời sống để chúng ta tin một cách vững vàng và sâu xa. Chúng ta cũng xin cho mình được biến đổi trong cuộc sống để trở nên tốt hơn. Nhờ đó, chúng ta trở thành những dấu hiệu hùng hồn dẫn đưa người khác đến với Chúa, để họ biết Ngài, tin vào Ngài và tôn thờ Ngài, vì Ngài chính là nguồn gốc của sự sống đời này và đời sau.