Chứng Nhân Phục Sinh

Chúa Nhật 3 Phục sinh, năm B

Anh chị em thân mến,

Lời Chúa hôm nay kêu gọi mỗi người tín hữu làm chứng cho Chúa bằng việc rao giảng Tin Mừng Phục Sinh. Sứ mệnh Chúa trao gồm ba điều: rao giảng cho muôn dân, kêu gọi người ta sám hối, chính các môn đệ là chứng nhân Phục Sinh.

Trong ngôn ngữ Việt Nam hiện nay hai từ ngữ chứng nhân và nhân chứng đôi khi được hiểu như nhau, có lúc lại lù mù. Tuy nhiên, thời gian và thói quen dùng chữ đã tạo cho hai từ ngữ này ý nghĩa khác biệt nhau. Nhân chứng là người làm chứng về một sự kiện nào đó, chẳng hạn nhân chứng về một đám cưới, một giao kèo, hoặc một vụ án. Nhân chứng có thể làm chứng thật hoặc chứng gian. Ngược lại, chứng nhân là người làm chứng về một lý tưởng hay một lối sống. Họ làm chứng bằng cả cuộc sống của họ. Chứng nhân sống điều mình nói và nói điều mình sống, có khi còn phải hy sinh mạng sống vì lý tưởng hoặc lối sống đó.

Khi nói đến Phục Sinh, ta bàn đến các chứng nhân đức tin. Chứng nhân căn bản là Chúa Giêsu Kitô vì Ngài đã chết cho lý tưởng yêu thương. Ngài đã giảng dạy, Ngài đã sống, đã chết và sống lại vì lý tưởng đó. Ngài sai các môn đệ làm chứng nhân cho Ngài và lối sống Ngài vạch ra. Qua các thế hệ, Giáo Hội không ngừng làm chứng về niềm tin Phục Sinh và lối sống yêu thương. Các thánh tử đạo Việt Nam đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho cho Chúa. Họ là những chứng nhân hùng hồn đã viết lên những trang sử đức tin bằng dòng máu tươi nồng của họ.

Vai trò làm chứng không dừng lại ở các bậc tiền nhân, nhưng vẫn tiếp nối trong các thế hệ hiện tại. Người tín hữu hôm nay cũng được trao phó nhiệm vụ làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh và lối sống yêu thương của Ngài. Trách nhiệm làm chứng cho Chúa luôn là động lực thúc đẩy chứng nhân liên tục sám hối. Sám hối là xét mình và thay đổi chính mình cho đúng đường lối yêu thương của Chúa Phục Sinh. Chứng nhân và sám hối luôn có mối liên hệ bất khả phân ly.

Thông thường ta có khuynh hướng nghĩ về sám hối theo lối gián đoạn, nghĩa là khi có tội mới sám hối, kế đến là nhận ơn tha thứ từ Bí Tích Hòa Giải rồi thôi. Theo lối suy nghĩ này, thì lâu lâu ta mới cần sám hối một lần, còn thường ngày không cần sám hối. Tuy nhiên, khuynh hướng này không phải là cách đáp ứng thỏa đáng trước ơn gọi làm chứng nhân, vì chứng nhân là một ơn gọi liên tục để trình bày lối sống lý tưởng mà Đấng Phục Sinh vạch ra. Cho nên sám hối phải là một tiến trình liên tục hằng ngày cho đến tận cùng của cuộc sống trần gian. Khi sám hối liên tục và canh tân chính mình, chứng nhân dần dà nên giống Chúa Kitô Phục Sinh. Nói cách khác, chứng nhân tu tâm dưỡng tánh để càng ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài.

Chứng nhân thường gợi lên cho ta những gì cao cả, đánh động tới khát vọng sâu thẳm của lòng người. Do đó, ta cảm thấy làm chứng nhân là điều hấp dẫn nhưng lại khó khăn, vì ta thuộc xác phàm mắt thịt, nên luôn bị trì kéo trong mạng lưới cám dỗ hằng ngày. Con đường nên thánh luôn hấp dẫn, nhưng dường như nó lại ở ngoài tầm tay của ta. Thực ra, việc nên thánh trong đời chứng nhân không khó, bởi vì mọi chuyện lớn lao thường là kết quả của những việc rất nhỏ mọn, tầm thường. Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu là một chứng nhân hùng hồn cho lối sống yêu thương qua những việc nhỏ mọn hằng ngày. Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận cũng làm những việc rất bình thường trong tin yêu. Cuốn sách “Đường Hy Vọng” của Đức Cố Hồng Y cũng được viết ra dần dà ngày này qua ngày khác trong hoàn cảnh ngục tù. Nhưng chính lòng mến Chúa và yêu người sâu xa của tác giả đã làm cho những tư tưởng đó trở thành thức ăn tinh thần hữu hiệu cho nhiều tâm hồn. Đức Cố Hồng Y trở thành chứng nhân cao cả trong hoàn cảnh tầm thường. Mẹ Maria là một chứng nhân gương mẫu tuyệt vời qua đời sống bình dị của Mẹ. Như thế, chứng nhân không cần phải làm những việc nổi đình nổi đám để rao truyền Tin Mừng, nhưng là thực hành lối sống tin cậy mến qua mọi việc lớn nhỏ hằng ngày. Bất cứ một việc tốt nào được thực hiện với lòng mến Chúa yêu người đều là hành vi chứng nhân.

Bất cứ việc làm nào nếu được lặp đi lặp lại sẽ trở thành thói quen. Thói quen sẽ trở thành máy móc vô hồn khi cuộc sống của cá nhân thiếu thời giờ để nghĩ lại. Vì thế, sống chứng nhân đòi buộc ta phải dành thời giờ để suy nghĩ về cuộc sống. Điều này quan trọng vì chứng nhân cần ý thức về mọi suy nghĩ mình theo đuổi, mọi thái độ mình bày tỏ, mọi lời mình nói, và mọi việc mình làm. Có như thế thì việc làm chứng của mình mới có ý nghĩa và lối sống của mình mới có hồn. Mỗi ngày dành ra ít phút để xét mình cũng giúp chứng nhân biết mình đang làm gì, đã làm gì và sẽ làm gì trong lý tưởng mến Chúa yêu người.

Theo lệnh truyền của Chúa Kitô, ta cũng nối gót các chứng nhân cổ kim để làm chứng cho Ngài. Ta hãy xin cho mình được một đức tin bền bỉ, một lòng trông cậy vững vàng và một tình mến dạt dào để cuộc sống của ta là một chứng từ hùng hồn cho Đấng đã chết và sống lại để cứu độ ta và mọi người.