Nơi Nương Tựa

Chúa Nhật 3 Phục Sinh, Năm A

Anh chị em thân mến,

Nương tựa vào nhau là điều không thể thiếu trong đời sống con người. Dù cho người nào nghĩ rằng họ tự lập thì chính người đó vẫn lệ thuộc vào xã hội chung quanh. Sự lệ thuộc xã hội có lý do của nó. Thứ nhất, con người được dựng nên để sống với người khác, nên không thể sống riêng rẽ. Chia vui xẻ buồn là điều không thể thiếu. Đó là một quy luật nằm sẵn trong bản chất của con người. Do đó con người luôn cần đến tha nhân.

Lý do thứ hai của việc lệ thuộc xã hội là vì cuộc sống của mỗi cá nhân và tập thể. Một cá nhân không thể tạo ra tất cả những thứ phương tiện vật chất để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của mình. Vì thế, cá nhân buộc phải nhờ vào người khác để đạt mục tiêu.

Chính khi nương tựa vào người khác, ta cảm thấy an tâm. Người mà ta nương tựa càng có uy tín, thế lực, thì ta càng yên tâm. Nếu đó là Chúa thì ta càng yên tâm hơn. Đó là điều mà ta nhận thấy qua bài Tin Mừng hôm nay. Theo đoạn Tin Mừng, ông Cơlêôpát và một người bạn đã từng theo Chúa Giêsu, họ đặt niềm hy vọng vào Ngài. Chính ông Cơlêôpát nói: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en” (Lc 23: 21). Niềm hy vọng của họ vẫn còn nhuốm mùi trần tục. Cũng như bao người Do Thái khác trong thời kỳ đó, hai người môn đệ trên đường Emmau vẫn ấp ủ mơ ước về một nước Do Thái độc lập vinh quang. Cho nên khi Chúa Giêsu xuất hiện, họ theo Ngài và hy vọng rằng Ngài sẽ giải phóng dân Do Thái ra khỏi ách thống trị của ngoại bang Roma. Ngài sẽ làm vua và họ sẽ được vinh quang trong chính phủ của Ngài. Nhưng cái chết của Chúa Giêsu làm cho họ tiêu tan hy vọng. Chính vì thế họ rời khỏi Giêrusalem, nơi chốn gây ra phiền não cho tâm hồn của họ.

Trong khi họ buồn bã vì mất chỗ dựa, Chúa Giêsu đã hiện ra và cùng đi đường với họ. Qua việc giải thích rành mạch về Kinh Thánh và lời tiên báo của các ngôn sứ, Ngài dần dà khai mở tâm trí ngu muội của họ và cuối cùng với hành động bẻ bánh trong quán ăn, họ đã nhận ra Ngài. Họ phấn khởi vì họ đã thay đổi não trạng. Họ nhìn vào Đấng Cứu Chuộc với con mắt khác. Họ vui mừng vì Ngài đã phục sinh. Họ tìm lại được an bình vì đã tìm lại nơi nương tựa. “Họ bảo nhau: “dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 23: 32). Họ trở lại Giêrusalem để gặp lại các môn đệ khác và chia sẻ niềm vui. Tuy Tin Mừng không nói rõ sau này họ sẽ làm gì, nhưng ta có thể khẳng định rằng, cảm nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu phục sinh đã làm thay đổi con người của họ và cuộc sống họ trở thành lạc quan phấn khởi rất nhiều vì họ có Chúa Phục Sinh làm nơi nương tựa cho họ trên cuộc lữ hành dương thế.

Câu chuyện trong bài Tin Mừng cũng chiếu giải ánh sáng Phục Sinh cho cuộc đời người tín hữu. Như hai người môn đệ kia, ta có thể rơi vào trạng thái tuyệt vọng khi gặp nghịch cảnh trên đời. Có khi ta cảm thấy mình không còn gì để sống. Ta muốn rời xa mọi người, như hai môn đệ kia rời bỏ nhóm anh chị em bạn hữu tại Giêrusalem để về Emmau. Ta có thể làm những quyết định thiếu suy nghĩ. Ta có thể buông xuôi cuộc sống như con thuyền vô định trên đại dương mênh mông mặc cho sóng vỗ gió gào bên tai. Ta thấy rối rắm, lạc hướng. Những lúc đó, ta hãy nhớ lại rằng Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn luôn là người đồng hành với ta. Ngài vẫn là nơi nương tựa chắc chắn cho ta. Vì Ngài là Thiên Chúa nên Ngài không bao giờ bỏ rơi ta. Được nơi nương tựa như thế, ta sẽ phấn khởi và bừng sống trở lại.

Tuy Chúa là nơi nương tựa chắc chắn cho ta khi ta lâm cơn khốn khó, ta không nên chờ đến khi rắc rối mới tìm đến Ngài. Không! Đối với một người có lòng tin, thì việc liên hệ với Chúa vẫn luôn là điều cần thiết. Hơn nữa, con người sống theo thói quen. Bình thường ta hành động kiểu nào thì khi gặp nguy khốn, ta cũng có khuynh hướng hành động theo lối ấy. Do đó, hướng về Chúa lúc bình thường tạo cho ta thói quen tinh thần để hướng về Ngài lúc lâm nguy.

Sở dĩ hai môn đệ trên đường Emmau hiểu được điều Chúa giải thích là vì họ đã biết Kinh Thánh. Họ đã nhiều lần học hỏi, suy niệm các lời tiên tri qua các buổi cầu nguyện hay đọc sách thiêng liêng. Nói cách khác tâm hồn của họ đã được chuẩn bị. Tương tự như thế, ta dễ nhận ra sự hiện diện của Chúa và ý Chúa trong các biến cố hay trong các sinh hoạt thường ngày, nếu ta siêng năng học hỏi Kinh Thánh, cầu nguyện bằng Kinh Thánh, sốt sắng tham dự Thánh Lễ, siêng năng đón nhận các Bí Tích, cầu nguyện, suy niệm riêng tư. Tất cả những điều này giúp chúng ta dần dà nhạy bén về Chúa và ân sủng của Chúa trong đời ta. Như thế, ta thấy mình luôn được nương tựa vào Chúa là Đấng đem lại cho ta bình an và hy vọng trong bất cứ lúc nào.

Lời cầu nguyện của ta là: “Lạy Chúa Giêsu, xin mở trí cho chúng con hiểu lời Kinh Thánh. Và khi Chúa phán dạy, xin đốt lòng chúng con cháy lửa nồng nàn. Allêluia” (Sách Bài Đọc Trong Thánh Lễ: Mùa Chay & Mùa Phục Sinh, trang 248)