Cúi Đầu Kêu Xin

Chúa Nhật 30 Thường Niên, Năm C

Anh chị em quý mến,

Những bài đọc của Chúa Nhật tuần trước đều nói về việc cần phải thể hiện lòng tin qua đời sống cầu nguyện, nhất là phải kiên trì cầu nguyện. Đoạn Tin Mừng tuần này bàn về ‘thái độ’ của người tín hữu trong đời sống cầu nguyện. Theo đoạn Tin Mừng, có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu còn người kia làm nghề thu thuế. Sau khi cầu nguyện trở về nhà, một người được nên công chính, còn người kia thì không.

Người không được nên công chính là người thuộc nhóm Pha-ri-sêu. Người này không được nên công chính không phải vì ông ta không tốt. Trái lại, ông ta là người luôn có ý hướng tốt lành. Vì những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu là những người thông hiểu lề luật. Họ là những người luôn giữ luật một cách rất khắt khe. Người Pha-ri-sêu trong dụ ngôn hôm nay là một thí dụ điển hình. Ông ta lên đền thờ, đứng thẳng người cầu nguyện, theo luật định. Ông ta cầu nguyện rằng: ông ta không phạm tội tham lam, bất chính, ngoại tình. Ông ăn chay mỗi tuần hai lần và dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của ông, hơn cả luật định. Từ cách ông ta đứng cầu nguyện cho đến những lời cầu nguyện của ông, chứng tỏ ông là một người rất hãnh diện về đời sống nghiêm chỉnh thực hành mọi điều lề luật ràng buộc.

Người được nên công chính là người làm nghề thu thuế. Người này được nên công chính không hẳn vì ông ta là người tốt. Vì rõ ràng là khi lên đền thờ cầu nguyện, chính ông đã cúi đầu nhìn nhận mình là người tội lỗi. Để hiểu tội ông, ta cần biết về công việc của những người làm nghề thu thuế. Những người thu thuế thời ấy làm việc không lương cho chính quyền bảo hộ. Vì không có lương, nên khi thu thuế họ phải thu hơn mức ấn định để có phương tiện sinh sống. Nhưng vì không có luật lệ rõ ràng quy định việc thu thêm thuế, nên có những người trong nhóm này đã tham lam quá đáng. Vì lòng tham của những người này mà tất cả những người thu thuế bị xã hội thời ấy lên án là loại người tham lam, bất chính.

Qua những điều ta biết về nguồn gốc của những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu và những người làm nghề thu thuế, và sau khi lắng nghe cả hai người cầu nguyện, ta thấy hình như cả hai người đều trình bày rất đúng về những việc họ đã làm. Tuy nhiên chỉ có ‘thái độ’ của họ trong lúc cầu nguyện là khác nhau. Đoạn Tin Mừng nói rõ, khi lên đền thờ cầu nguyện người thu thuế chỉ dám “đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực” vừa kêu xin: xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Trước mặt Thiên Chúa, người thu thuế khiêm nhường nhìn nhận tội lỗi mình và tin tưởng chỉ có Chúa mới có thể làm cho ông trở nên người công chính. Vì thế, ông đã kêu xin lòng thương xót Chúa. Vì ông ta kêu xin, nên ông được trở nên công chính.

Ngược lại, khi người thuộc nhóm Pha-ri-sêu lên đền thờ cầu nguyện, ông ta không kêu xin. Ông ta hãnh diện báo cáo với Chúa về những việc tốt lành ông đã làm. Ông tự cho mình là người tốt lành hơn bao kẻ khác. Hình như ông có ý muốn nói, vì những việc tốt lành ông đã làm, ông xứng đáng là người công chính. Ta có thể hiểu ý ông muốn nói là, chính ông đã làm cho bản thân ông nên công chính. Vì ông nghĩ mình công chính, nên không cần lòng thương xót Chúa. Vì không cần lòng thương xót, nên ông không kêu xin. Vì không kêu xin, nên ông không được gì cả.

Ta thấy hai con người này hoàn toàn khác nhau. Một người tự cho mình là người công chính. Người này không kêu xin Chúa giúp, nhưng cậy dựa vào chính sức mình. Vì thế ông ta không được nên công chính. Một người biết nhìn nhận tội lỗi mình. Ông ta khiêm nhường xin được nên công chính. Vì thế ông ta “được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không.” (Rôma 3:24).

Đức Giêsu tán dương thái độ khiêm nhường của người thu thuế. Ông ta không từ chối hay tránh né nhìn nhận tội lỗi mình. Trái lại, ông ta khiêm nhường nhận tội và kêu xin Chúa thương xót. Ông không giả dối, vì ông biết mình và những việc ông đã và đang làm. Ông biết mình không xứng đáng với lòng thương xót Chúa, nhưng ông vẫn kêu xin. Lời cầu nguyện chân thành của ông, chứng tỏ ông rất khiêm nhường và hết lòng tin tưởng vào Chúa. Vì thế ông đã được nên công chính.

Nếu phải kiêu hãnh về sự công chính, ta hãy học theo gương thánh Phaolô. Theo bài đọc hai, trong thư gửi ông Ti-mô-thê, thánh Phaolô phấn khởi nhìn nhận những thành quả của mình trong việc phục vụ Thiên Chúa, qua việc rao giảng Tin Mừng. Ngài đã hoàn thành tốt những việc phải làm, “đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin.” Nhưng khác với người Pha-ri-sêu, thánh Phaolô khiêm nhường nhìn nhận những thành quả đạt được là do ơn Chúa giúp. Thiên Chúa luôn hiện diện để ban sức mạnh cho ngài. (2Tm 4:17).

Lạy Chúa, xin giúp con luôn biết khiêm nhường cúi đầu kiên trì cầu nguyện kêu xin.