Người Thân Cận

Chúa Nhật 15 Thường Niên, Năm C

Anh chị em thân mến,

Tin Mừng hôm nay trình bày cho ta dụ ngôn người Samari nhân lành. Nơi đây người thông luật muốn thử thách khả năng Đức Giêsu. Người thông luật không có thiện chí học hỏi. Ông chỉ muốn hạ giá Đức Giêsu mà thôi. Trong khung cảnh văn hóa vùng Cận Đông, người ta coi trọng mặt mũi nhiều. Vấn đề danh dự được đặt lên hàng đầu. Chính vì thế mà người Pharisêu hay tìm cách để vinh danh chính mình.

Trong bài Tin Mừng này, người thông luật muốn làm cho Đức Giêsu bị kẹt, không trả lời được. Như vậy, thì danh dự của một vị thầy sẽ bị hao mòn. Nhưng Chúa không trả lời trực tiếp vào câu hỏi. Ngài lại dùng một câu hỏi khác để trả lời người thông luật và cùng lúc buộc người ấy vào thế bị động, tức là phải tìm cách trả lời câu hỏi. Nếu không trả lời được thì chính mình sẽ bẽ mặt. Câu trả lời của người thông luật trích từ Đệ Nhị Luật 6: 4-9 về việc yêu mến Thiên Chúa, và từ sách Lê vi 19: 18 về việc yêu mến người thân cận. Tuy nhiên vấn đề là phải hiểu người thân cận như thế nào. Vì thế, người thông luật mới hỏi: “Ai là người thân cận của tôi?” Chúa Giêsu không trả lời bằng một câu nói trừu tượng nhưng dùng một dụ ngôn để giải thích. Dụ ngôn vừa thực tế vừa chứa đựng nhiều giáo huấn sâu xa.

Một người từ Giêrusalem về Giêrikhô bị cướp đánh gần chết. Một vị tư tế, một thầy Lêvi và một người Samari đi ngang qua đó. Nhưng chỉ mình người Samari ra tay giúp đỡ kẻ lâm nạn. Thời Chúa Giêsu, con đường từ Giêrusalem về Giêrikhô có nhiều bọn cướp rình rập tấn công khách đi đường, vì nhiều người trong giới thượng lưu thường dùng con đường này để về nơi cư trú mùa đông của họ tại Giêrikhô. So với Giêrusalem, Giêrikhô có khí hậu ấm áp hơn.

Trong bối cảnh của dụ ngôn, giới răn yêu người thân cận (Levi 19: 18) và giới răn tránh ô uế do đụng chạm xác chết (Lêvi 21:1-3) xem ra căng thẳng với nhau. Thầy tư tế và thầy Lêvi đã chọn giới luật tránh ô uế. Người lâm nạn có thể đã chết. Nếu không chết thì cũng có thể chết trong lúc trị thương. Chi bằng tránh qua một bên để khỏi phạm tội ô uế, mất công phải qua nghi thức thanh tẩy và bị mất mặt trước công chúng. Nhưng thực ra trong cách nhìn của Chúa Giêsu, hành động như vậy không đúng vì mạng sống con người phải được ưu tiên.

Ngược lại, chính người Samari đã chọn lựa đúng đắn bằng cách giúp đỡ người lâm nạn. Khi giúp đỡ như vậy, ông phải liều, vì người lâm nạn khi tỉnh dậy có thể trách ông làm ô uế. Nếu người ấy chết, gia đình có thể đổ tội cho ông. Tuy nhiên, lòng thương đã thúc đẩy ông làm ơn cho kẻ bị nạn.

Quan niệm của người Do Thái lúc đó về người thân cận rất hạn hẹp. Người thân cận chỉ là một người Do Thái khác mà thôi. Qua dụ ngôn người Samari nhân lành, Chúa cho thấy rằng người thân cận không phải chỉ là một người Do Thái khác, nhưng là bất cứ ai lâm cảnh khó khăn cần được giúp đỡ. Thực vậy, Thiên Chúa là Cha chung. Chính người cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ.

Khi nhìn vào dụ ngôn ta có thể rút ra một vài điều để áp dụng vào đời sống của mình. Điều đầu tiên là ta chớ vội phán đoán về tư cách của một người theo dáng vẻ bề ngoài hay là theo thành kiến chủ quan. Trong con mắt của người Do Thái tại Giêrusalem thì người Samaria là tạp chủng, ô uế, không đáng tiếp xúc. Nhưng chính người này lại cao thượng, giàu lòng nhân ái hơn những kẻ đại diện cho luân thường đạo lý là thầy tư tế và Lêvi. Do đó câu nói “xem mặt mà bắt hình dung” không phải là chân lý tuyệt đối. Ta phải vượt qua bề ngoài hay qui ước xã hội để nhìn thấy lòng tốt của người chung quanh.

Mặt khác việc giúp đỡ nào cũng có hy sinh và tình yêu nào cũng hàm chứa phần nào mất mát. Người Samari phải chấp nhận mất thời gian, tiền bạc để giúp đỡ. Ông còn phải chấp nhận những nguy hiểm khác có thể xảy đến cho mình chẳng hạn nếu nạn nhận chết, ông có thể bị đổ tội gây ra án mạng. Nhưng ông đã vượt qua những quan ngại đó để bày tỏ tình thương của ông đối với nạn nhân.

Điều thứ ba là việc bác ái của ta phải có tính phổ quát, nghĩa là hướng đến mọi người, không loại trừ ai. Nếu ta chỉ nghĩ đến việc giúp đỡ người quen biết hay người đồng hương mà thôi, thì ta chẳng khác gì người Do Thái ngày xưa với quan niệm về người thân cận rất chật hẹp. Ta hãy mở rộng đầu óc và lòng mình cho hết mọi người không phân biệt màu da, chủng tộc hay tôn giáo... Có như vậy ta mới theo đúng giáo huấn của Chúa. Chúa nhập thể làm người tại một xứ sở, nhưng giáo huấn và ơn cứu độ của Chúa nhắm đến mọi người, mọi nơi và mọi thời.

Xin cho ta đón nhận Tin Mừng hôm nay vào cuộc sống và bắt chước gương người Samari nhân lành. Chúa nói với người thông luật: “Ông hãy đi, và cũng làm như vậy”. Lời đó cũng nhắn bảo ta hãy đi và cũng làm như vậy, nghĩa là thực thi bác ái như người Samari kia, là yêu người thân cận như chính mình vậy. Yêu Chúa, yêu người và yêu chính mình là bộ ba liên kết mật thiết trong con đường theo Chúa để đi vào phúc trường sinh hôm nay và mai sau.