Mừng Chúa Sinh Nhật

Chúa Nhật, Lễ Giáng Sinh 2005

Anh chị em quý mến,

Trong đêm Đức Giêsu ra đời các Thiên thần hát mừng: “Vinh danh Thiên chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Ta có thể hiểu, đêm ấy các Thiên thần đã loan báo rằng Đức Giê-su, Đấng Cứu Thế ra đời để đem bình an của Thiên Chúa đến cho nhân loại, và qua cuộc đời của Đức Giêsu, Thiên Chúa được vinh danh.

Có ba điểm tôi muốn cùng anh chị em suy tư:

Thứ nhất, Đức Giê-su đã đến trong không gian và thời gian. Theo Thánh Luca, “Thời ấy hoàng đế Âu-gút-tô ra chiếu chỉ truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri-a. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giu-se từ thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê, lên thành Bê-lem, miền Giu-đê, là thành vua Đa-vít, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Đa-vít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã đính hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã đến ngày mãn nguyệt khai hoa.” Như thế, Đức Giê-su đã vào thế gian trong không gian và thời gian. Ngài đã vào đời làm người trong một thời điểm lịch sử, mặc lấy thân phận sắc dân Do thái, dưới một mái gia đình, thuộc về một giòng họ, và có một nguồn gốc.

Mỗi người Việt tha hương chúng ta cũng có một gia đình, cũng thuộc về một giòng họ và cũng có một nguồn gốc. Người Việt chúng ta thường tự hào là dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến. Đặc biệt đối với người Công giáo, chúng ta luôn hãnh diện tuyên xưng là con cháu các thánh tử đạo. Sự hiện diện của chúng ta ở hải ngoại, đặc biệt tại nước Úc này, là một biến cố lịch sử của một thời điểm lịch sử. Bởi vậy chắc chắn chúng ta phải có một nhiệm vụ khi chúng ta được Thiên Chúa đưa đến nơi này. Nhiệm vụ của chúng ta ở nơi đây lúc này là truyền bá đức tin Công giáo, văn hóa dân tộc Việt Nam cho những người ở chung quanh chúng ta. Chúng ta có nhiệm vụ truyền bá những giá trị căn bản về nền tảng đạo đức của người Việt nam ngoài xã hội, trong gia đình, cũng như nơi học đường. Cách đặc biệt hơn, nhiệm vụ của những người Công giáo Việt Nam là truyền bá đức tin đặc thù của cha ông chúng ta để lại. Đức tin sắt thép đã giúp hơn ba trăm ngàn thánh tử đạo Việt Nam hiên ngang đổ máu đào để tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa. Và cũng chính đức tin này đã giúp giáo hội Việt Nam vượt qua những gian nao thử thách trong nhiều năm qua. Những giá trị về việc gia đình, làng xóm cùng nhau cầu nguyện, giúp nhau giữ luật hội thánh, khuyến khích nhau làm việc lành bác ái là những yếu tố căn bản làm nên đức tin người công giáo Việt nam. Những giá trị ấy cần được cổ võ và phát triển rộng rãi hơn.

Thứ hai, Đức Giêsu đã đến trong yêu thương. Ngài đã đến trong một mái gia đình có cha có mẹ. Cha và mẹ của Ngài là thánh Giu-se và Đức bà Ma-ri-a. Theo thánh Lu-ca: sau khi đã hoàn tất việc cắt bì và việc dâng Đức Giê-su, con đầu lòng, cho Thiên Chúa trong đền thờ như lề luật đòi buộc, thánh Giu-se và Đức bà Ma-ri-a đã đưa con trẻ về sống ẩn dật tại thành Na-za-rét, miền Ga-li-lê. Tại đây Đức Giê-su đã sống cuộc đời bình thường như bao đứa trẻ khác. Ngài cũng được cha mẹ ấp ủ, thương yêu, dạy dỗ. Ngài được học hỏi những gì thuộc về văn hóa, truyền thống do cha ông để lại. Ngài cũng được học hỏi vấn đề đạo giáo của cha ông. Với tuổi đời Chúa ban, Ngài đã dần dần khám phá ra thân phận con người và nhiệm vụ của Ngài là thi hành Thánh ý Chúa Cha, rao giảng tin mừng yêu thương, tha thứ. Và vì tin mừng Ngài rao giảng có những điểm trái ngược với truyền thống đạo đức thời bấy giờ, Ngài đã bị những người Pha-ri-siêu cho rằng Ngài cố tình chống phá truyền thống đạo đức của cha ông, và còn xúi dục các môn đệ Ngài làm theo. Nơi Ngài luôn có sự xung đột giữa truyền thống của cha ông và chân lý của Thiên Chúa, chân lý mà Ngài đã khám phá ra qua những lần cầu nguyện cùng Chúa Cha.

Là những người Việt tha hương, mỗi người chúng ta mang trong người một truyền thống anh hùng, một căn bản đạo đức của cha ông để lại. Chúng ta được mời gọi để truyền bá những giá trị ấy. Chúng ta được mời gọi để truyền bá những giá trị căn bản của đời sống xã hội, gia đình và học đường Việt nam cho những người ở chung quanh chúng ta. Xã hội của người Việt là xã hội biết tôn trọng đạo đức chung, mỗi người sống vì mọi người, chứ không phải mọi người sống vì một người. Nói như thế không phải chúng ta không biết tôn trọng nhân phẩm con người. Nhưng trong tập thể xã hội Việt nam con người chỉ là một phần tử của xã hội. Trường học của chúng ta là nơi thầy cô truyền đạt kiến thức cho học trò. Nhưng trên hết và trước hết, trường học còn là nơi để thầy cô uốn nắn học sinh trở nên những người có căn bản đạo đức, để trở thành những người hữu dụng cho gia đình và cho tổ quốc mai sau. Gia đình của chúng ta là gia đình biết kính trên nhường dưới. Ở nơi đó con cháu biết tôn kính ông bà, cha mẹ. Anh chị em biết thương yêu nhường nhịn lẫn nhau. Đại gia đình của chúng ta là nơi ông bà, cha mẹ, chú, bác, cô, dì, cậu mợ vui vẻ, xum họp, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau. Muốn được như thế, con trẻ Việt Nam cần được học tiếng Việt Nam cách thông thạo và hiểu biết văn hóa Việt Nam cách tường tận ngay từ trong gia đình.

Để làm tăng thêm vẻ đẹp của giống nòi Việt nam, chúng ta cũng được khuyến khích để học hỏi và chấp nhận những giá trị tốt đẹp của những truyền thống khác và bỏ đi những gì không hoàn hảo trong gia tài văn hóa, truyền thống đạo đức của người Việt chúng ta. Điển hình như tôi đã trình bày, việc gia đình làng xóm tụ tập nhau đọc kinh thờ phượng Chúa là điều tốt. Nhưng tụ tập nhau để rồi sau đó có cơ hội ngồi lại để nói hành, nói xấu, chê trách người khác là điều không tốt. Giúp nhau giữ luật hội thánh, khuyến khích nhau làm việc lành là những điều tốt lành, nhưng đừng để những cố gắng ấy trở thành những dịp để gia đình này dòm ngó gia đình kia thì thật là điều không hay. Những hội đoàn, đoàn thể trong giáo hội là những tổ chức tốt lành, thánh thiện. Mỗi hội đoàn đều có linh đạo riêng. Vì thế cần chú ý, đừng để những khác biệt này trở thành đầu mối của những sự chia rẽ. Trong gia đình, đừng dựa vào vấn đề kính trên nhường dưới để rồi có đôi khi ức hiếp nhau quá sức.

Những khám phá mới này, những học hỏi mới này đương nhiên sẽ gây ra những xung đột trong tâm hồn mỗi người. Đương nhiên nó sẽ đưa đến sự bất đồng ý kiến trong gia đình cũng như nơi xã hội. Nhưng, với những người có đức tin, đời sống cầu nguyện chắc chắn sẽ giúp chúng ta vượt thắng được những khó khăn này. Qua kết hợp mật thiết với Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện chúng ta có thể dễ dàng bỏ đi cái tôi vĩ đại của mình mà chấp nhận người khác.

Thứ ba, Đức Giêsu đến để yêu thương. Khi Đức Giê-su ra đời, các Thiên thần hát mừng, và các Sứ thần Chúa đã đi tìm để loan tin vui này cho những người chăn chiên. Vậy những người chăn chiên, những người hèn mọn nhất của thời bấy giờ, đã được Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt và đã đến với họ trước nhất. Những người chăn chiên, những kẻ sống bên lề xã hội của những người giữ luật Do-thái thời bấy giờ, đã được Chúa mời gọi và đón nhận như những người thân thiết nhất của Ngài. Thiên Chúa đã đến trong thân phận con người để yêu thương và đón nhận những người tội lỗi, những con người bị đời hất hủi, ruồng bỏ.

Như tôi đã chia xẻ, trong nỗ lực làm thăng tiến kho tàng văn hóa, đạo đức do cha ông để lại, có những việc chúng ta làm sẽ bị người đời xem như đó là những cố tình chống phá đi ngược lại với truyền thống của cha ông. Bởi vậy sẽ có những xung đột xảy ra. Về điểm này chúng ta cần phải học hỏi nơi những văn hóa khác. Ở nơi một số những văn hóa khác, tôi thấy mỗi lần có khác biệt quan điểm thì hình như người ta xem đó là một cơ hội để thảo luận, học hỏi và để cùng nhau thăng tiến. Còn đối với chúng ta, thì hình như không đồng quan điểm cũng còn có nghĩa là chống đối, là không cùng giới tuyến, là kẻ thù thì phải. Chúng ta hình như không bao giờ muốn có và muốn chấp nhận đối lập thì phải. Và như thế thì sẽ không có những cơ hội để thảo luận, để học hỏi và để thăng tiến. Là môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta được mời gọi để yêu thương những người chăn chiên, những người hèn yếu nhất, những người sống bên lề xã hội, và yêu thương cả kẻ thù.

Mừng Chúa ra đời làm người cứu chuộc thiên hạ, mừng Chúa vào đời làm người để giao hòa con người với Thiên Chúa và với con người, mỗi người chúng ta được mời gọi để trở thành nhân chứng cho mầu nhiệm Thiên Chúa làm người. Sứ mệnh của chúng ta ở nơi này là vào đời, là hòa mình, là hội nhập trong lòng xã hội Úc, để học hỏi, để ảnh hưởng, để cùng nhau thăng tiến và nhất là để yêu thương, tha thứ.

Lạy Chúa, xin giúp con biết can đảm đón nhận và yêu thương mọi người như Chúa đã quảng đại đón nhận và yêu thương con.