Yêu Người Như Yêu Mình

Chúa Nhật 31 Thường Niên, Năm B

Anh chị em quý mến,

Khi Chúa Giêsu đang ở Giê-ru-sa-lem thì có người kinh sư đến hỏi Ngài điều răn nào là điều răn đứng đầu trong mọi điều răn. Để trả lời ông, Chúa nói: “Điều răn đứng hàng đầu là: … Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.”

Mến Chúa và yêu người là hai điều mà người tín hữu nào cũng biết và cũng muốn thực hành. Nhưng mến Chúa và yêu người được đến đâu thì lại là chuyện khác.

Mến Chúa với hết khả năng ta thì có vẻ không khó lắm! Vì Chúa ban mỗi người mỗi khả năng, ta cứ đem hết khả năng Chúa ban mà yêu mến Chúa như vậy cũng tạm coi là được rồi. Chúa ban mỗi người mỗi trí khôn, sức khỏe, những sự hiểu biết khác nhau, ta cứ đem hết những khả năng ấy ra mà thờ phượng Chúa chắc Chúa cũng không đòi hỏi gì hơn.

Nhưng còn điều răn thứ hai là yêu người thân cận như chính mình thì sao? Điều răn này có vẻ không dễ thực hiện!

Nhân dịp mừng lễ các Thánh, tôi muốn đưa ra mẫu gương một vị Thánh tử đạo thời đại để mọi người cùng học hỏi. Điều răn Chúa dạy “yêu người thân cận như chính mình” là điều có thể thực hiện được.

Người tôi muốn nói đến là cha Thánh tử đạo Maximillian Kolbe. Ngài là người Ba-Lan, linh mục dòng Phan-xi-cô, bị quân Đức bắt giam vào thời kỳ thế chiến lần thứ hai. Ngài bị giam với 320 tù nhân khác tại khu 14, trại tù Auschwitz. Vào một ngày đầu tháng Tám năm 1941, một người tù trong khu 14 trốn trại. Tất cả mọi người trong khu 14 bị đưa ra đứng ngoài nắng suốt ngày hôm ấy. Lính Đức tìm kiếm suốt ngày nhưng không tìm được người tù trốn trại. Chiều đến, người chỉ huy trại giam ra lệnh mười người trong số những người tù còn lại sẽ bị tử hình thay cho người bỏ trốn. Trong số những người bị gọi tên để đưa đi tử hình có Trung sĩ Ba-Lan tên Francis Gajowniczek, ông là người có vợ con. Khi nghe đến tên mình bị gọi đi tử hình ông đã khóc và xin được tha chết. Thấy ông van xin được tha chết để hy vọng được gặp lại vợ con, cha Kolbe chạnh lòng thương, ngài đã bình tĩnh bước ra khỏi hàng, tự xưng mình là linh mục Công giáo và xin được chết thay cho ông. Ông là người làm chứng và tham dự lễ phong Á Thánh của cha Kolbe vào ngày 17 tháng Mười năm 1971. Cha Kolbe đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh tử đạo ngày 10 tháng Mười năm 1982.

Ở vào bất cứ thời điểm nào người tín hữu cũng luôn được Chúa mời gọi sẵn sàng hy sinh mạng sống cho người thân cận. Nhưng thường thì việc hy sinh mạng sống cho người thân cận là điều không cần thiết. Chúa không bắt buộc chúng ta phải hy sinh mạng sống cho người thân cận như Chúa đã làm. Chúa cũng không trông đợi chúng ta phải chấp nhận chết thay cho người thân cận như Thánh Kolbe đã hy sinh. Nhưng ở mọi nơi và mọi lúc, lúc nào Chúa cũng đang mời gọi ta hy sinh cho người thân cận trong những công việc nhỏ đang xảy ra hàng ngày trong đời sống chúng ta.

Yêu thương chính bản thân ta thì dễ, nhưng yêu thương người thân cận như chính mình thì thật khó. Để có thể yêu thương người người thân cận đòi buộc chúng ta phải hy sinh. Hy sinh là thiệt thòi. Hy sinh là đau khổ. Hy sinh là chấp nhận để cho người khác coi thường mình. Hy sinh là chấp nhận để người khác lừa gạt mình. Như vậy hy sinh là chấp nhận để người đời khinh chê, cười nhạo mình là người dại khờ.

Trong Giáo Hội có rất nhiều người đã hy sinh bỏ mình trên con đường theo Chúa. Các Thánh nam nữ mà dịp này Giáo Hội mừng kính là những người đã biết “liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”. Nhân dịp lễ kính các Thánh mỗi người chúng ta được mời gọi để học hỏi nơi sự hy sinh của các ngài để đời sống đức tin ngày càng thăng tiến.