Kinh Tin Kính và Những Cuộc Tranh Luận

Mỗi ngày Chúa Nhật người Công Giáo tham dự Thánh Lễ đều đọc Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ hoặc Kinh Tin Kính Nicea. Chữ “tin kính” (creed) do chữ Latin credo, thường dịch là “tôi tin”. Tuy nhiên, các nhà từ nguyên học cho rằng chữ credo thực ra là do hai chữ latin khác hợp thành, tức là cor (“trái tim”) và do (“ tôi đặt, tôi để”). Nếu bạn thay cụm từ “tôi tin” bằng “tôi đặt trái tim”, thì bạn sẽ hiểu được sự dấn thân sâu xa mà các kinh tin kính cổ truyền mời gọi chúng ta bước vào.

Nguồn gốc Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ thật mù mờ. Một truyền thuyết vào khoảng thế kỷ thứ 5 kể lại rằng sau biến cố phục sinh, mỗi Tông đồ đều thêm thắt một câu vào kinh này trước khi họ chia nhau đi rao giảng tin mừng về Chúa Giêsu Kitô. Như chúng ta biết, có lẽ kinh tin kính này liên hệ đến việc tuyên xưng đức tin trong các nhà thờ tại Rôma vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai. Các ứng viên rửa tội đều được hỏi một loạt câu hỏi, và các câu hỏi này lại rất giống như những lời xác định trong kinh Tin Kính của các thánh Tông Đồ: “Con có tin Thiên Chúa là Cha toàn năng không? Con có tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, sinh bởi Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Maria, đã chịu khổ hình thời quan Phongxiô Philatô, đã chết, và đã trỗi dậy từ trong kẻ chết,…”

Lúc đầu, các bản kinh tin kính được đặt ra là để sử dụng trong phụng vụ, nhưng rồi chúng cũng được dùng để phân biệt giữa giáo huấn Kitô Giáo và những niềm tin sai lạc. Vào thế kỷ thứ hai, các Kitô hữu theo phái “ngộ giáo” lại có cái nhìn tối tăm về thế giới vật chất; họ cho rằng thế giới đó là do một hữu thế thấp kém tạo dựng, chứ không phải do Thiên Chúa tối cao. Họ cho rằng Đức Giêsu Kitô chỉ thuần túy là một đấng thiêng liêng, nên không thể có thân xác; Ngài cũng không thể thực sự chịu đau khổ và chịu chết được. Trái lại, kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ nhấn mạnh rằng Thiên Chúa Cha Toàn Năng chính là đấng tạo dựng trời đất, Chúa Giêsu đã thực sự được sinh ra, đã chịu đau khổ, đã chịu chết và đã trỗi dậy, và sẽ có ngày chúng ta cũng được sống lại trong thân xác.

Kinh Tin Kính Nicea xuất hiện là để trả lời cho một tranh luận thần học. Vào đầu thế kỷ thứ bốn, một linh mục Ai Cập mang tên Arius chủ trương đường lối độc thần nghiêm nhặt. Ông quan niệm rằng chỉ có một Thiên Chúa, và vị Thiên Chúa này không bao giờ có khởi nguyên. Nói theo thuật ngữ thần học thời đó, thì chỉ mình Ngài không có khởi nguyên, không do sinh sản hoặc phát ra. Chỉ một mình Ngài là trường sinh. Trước khi có thời gian, và trước khi vũ trụ được tạo thành, Thiên Chúa đã sinh ra Ngôi Lời, Con của Ngài. Ngôi Lời là một tạo vật, một tạo vật hoàn hảo, nhưng chỉ là một tạo vật mà thôi. Ngài có nét thần linh, nhưng không phải là Thiên Chúa thực sự. Một trong những câu kinh thánh mà Arius ưa chuộng là câu 8:22 trích sách Châm Ngôn trong đó Đức Khôn Ngoan được nhân cách hóa để nói rằng: “Đức Chúa đã dựng nên ta như tác phẩm đầu tay của Ngài, trước mọi công trình của Ngài từ thời xa xưa nhất.” (Truyền thống lâu đời của Thần học Kitô giáo đã coi Đức Giêsu chính là Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa và cũng là Lời của Thiên Chúa). Arius cũng ưa thích một câu khác trong Tin Mừng Gioan (14:28) khi Đức Giêsu nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.”

Đức Giám Mục Alexander ở Alexandria thấy hoang mang vì giáo huấn của Arius. Vị phó tế và cũng là ngưòi kế vị ngài sau này là Athanasius đã cật lực lý luận rằng giáo huấn đó làm xói mòn ơn cứu độ. Đức Giêsu Kitô chỉ có thể mặc khải Thiên Chúa cho chúng ta, Ngài chỉ có thể cứu chúng ta khỏi chết, nếu Ngài thực sự là Thiên Chúa mà thôi. Athanasius cũng nại đến Kinh Thánh, nhất là câu 1:1 trích Tin Mừng Gioan (“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”) và câu 14: 9 trích Tin Mừng Gioan (“Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”).

Năm 318/319, công đồng giám mục Ai Cập đã kết án giáo huấn Arius và lưu đày ông. Sự kiện này không chấm dứt được tranh luận bởi vì ông ta đã tạo được những người ủng hộ ở nơi khác. Giáo Hội phương đông đã chia rẽ. Năm 324, hoàng đế Constantine chiếm được phần đất phía đông của đế quốc, gồm cả Ai Cập. Constantine là hoàng đế bảo trợ đầu tiên cho Kitô Giáo. Vào năm 325, ông triệu tập các giám mục trong đế quốc về họp tại Nicea, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

Có khoảng 300 giám mục đã tham dự Công Đồng Nicea và đã ban hành bản tuyên bố về tín lý. Bản văn xác định rằng Đức Giêsu Kitô là “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, Đồng bản thể với Đức Chúa Cha.” Sau giáo huấn tích cực này, một kết luận tiêu cực lại tiếp theo, nhắm thẳng vào Arius và những người ủng hộ ông: “ Và những kẻ nói rằng “ Đã có lúc ngài không có” và “Trước khi được sinh ra thì ngài không có, và “Ngài từ hư vô mà đến”, hoặc những kẻ nghĩ rằng Con Thiên Chúa có “bản thể khác”, hoặc “được tạo thành”, hoặc “có thề sửa đổi” hoặc “có thể biến đổi”, thì Giáo Hội Công Giáo và Tông Truyền ra vạ tuyệt thông.” Một vài giám mục không đồng thuận với bản tin kính này đều bị lưu đày.

Năm 381, công đồng Constantinople đã sửa đổi lại Kinh Tin Kính Nicea. Công Đồng loại bỏ những lời vạ tuyệt thông ở phần cuối và đã thêm vào đoạn nói về Chúa Thánh Thần: “là Chúa và là Đấng ban sự sống. Người bởi Đức Chúa Cha mà ra. Người cũng được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.” Bản kinh tin kính có phần sửa đổi này là kinh mà người Công Giáo đọc ngày nay, mặc dù có thêm lời xác quyết là Đức Chúa Thánh Thần bởi Chúa Con cũng như bởi Chúa Cha mà ra. Trong thời Trung Cổ bên phương Tây, cụm từ filioque (“và Đức Chúa Con”) lại được thêm vào. Cụm từ này không nằm trong phụng vụ phương Đông. Dầu khác biệt như thế, nhưng kinh tin kính của Công Đồng Constantinople năm 381 thỉnh thoảng cũng được gọi “Kinh Tin Kính Đại Kết”, vì kinh này là bản tuyên xưng đức tin lớn lao được chấp thuận bởi Giáo Hội Công Giáo, các Giáo Hội Chính Thống và hầu hết các hệ phái Tin Lành. Bản kinh này vẫn được gọi Kinh Tin Kính Nicea, mặc dầu danh xưng Kinh Tin Kính Nicea-Constantinople thì chính xác hơn.

Những tranh luận thần học dẫn đến việc hình thành Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ và Kinh Tin Kính Nicea chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên, mặc dầu thực tế cho thấy các kinh tin kính có mục đích tóm gọn những điều tin tưởng mà dân chúng “đặt trái tim” vào. Tựu trung mọi ngôn ngữ về Thiên Chúa đều hạn hẹp, như nhà thần học gia lỗi lạc là thánh Augistinô ở Hippo đã nhìn nhận vào thế kỷ thứ năm, nhưng vẫn cần phải cố gắng quy định những điều chúng ta tin; như thế Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ và Kinh Tin Kính Nicea đã đứng vững trước thử thách của thời gian để trở thành những lời tuyên xưng đức tin lớn lao nhất của Kitô Giáo.