Học Đạo » 2015

Đừng Phá Rối Hôn Nhân

Lá thư mục vụ của các Giám Mục Công Giáo Úc Châu gửi đến mọi người Úc về
Cuộc Bàn Cãi "Hôn Nhân Đồng Tính"


Đây là thời điểm trong lịch sử mà mọi người bàn tán rất sôi nổi về ý nghĩa của hôn nhân. Có người nghĩ rằng nếu không cho phép những người đồng tính luyến ái cưới nhau thì đó là một kỳ thị bất công. Lại có những người khác nghĩ rằng hôn nhân là định chế kết hợp giữa một người nam và một người nữ. Qua lá thư mục vụ này chúng tôi mong được tham gia vào cuộc bàn cãi, trình bày giáo huấn của Giáo Hội cho các tín hữu, và giải thích lập trường của các tín hữu Công Giáo cho mọi người trong cộng đồng xã hội rộng lớn hơn.

Truyền thống Công Giáo dạy rằng mỗi một người là một nhân vị độc đáo và không thể thay thế, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được Ngài yêu mến.

     Vì thế, mỗi người nam, mỗi người nữ và mỗi đứa con đều có nhân phẩm cao quý và giá trị không bao giờ có thể tước bỏ đi được. Điều này bao gồm cả những người đã trải nghiệm về khuynh hướng đồng tính luyến ái. Họ phải được đối xử với lòng tôn trọng, sự tế nhị và tình thương.
Giáo Hội Công Giáo phản đối tất cả mọi hình thức kỳ thị bất công. Chúng tôi bài bác những bất công gây ra cho người ta vì lý do tôn giáo, giới tính, chủng tộc, tuổi tác… Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo kêu gọi chúng ta nên thông cảm cho những người có khuynh hướng đồng tính sâu đậm, vì có thể đối với họ đây là một thử thách thực sự. "Họ phải được đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Phải tránh bất cứ dấu hiệu phân biệt đối xử bất công nào đối với họ" (2358).
Người Kitô hữu tin rằng tất cả mọi người kể cả những người đồng tính luyến ái đều được Chúa kêu gọi sống khiết tịnh; và với ân sủng của Chúa cùng sự hỗ trợ của bạn bè, họ có thể vươn lên và cần phải vươn lên để hoàn tất chương trình của Chúa. Ngay cả những người có quan điểm khác với chúng tôi về vị trí và ý nghĩa của sinh hoạt tính dục cũng có thể nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của định chế này. Hiện giờ, chúng ta đang phải đối diện với sự trăn trở cho chính cái linh hồn của hôn nhân.

Bình Đẳng và Kỳ Thị
trong Hôn Nhân
Những người ủng hộ “hôn nhân đồng tính” hiếm khi chú trọng đến ý nghĩa và mục đích thực sự của hôn nhân. Thay vào đó họ cho rằng sự bình đẳng về nhân phẩm và nguyên tắc không kỳ thị đòi hỏi luật pháp phải công nhận những quan hệ đồng tính như là những cuộc hôn nhân.
Lời kêu gọi về bình đẳng và không kỳ thị này làm đảo lộn các sự việc một cách sai lầm. Công bình đòi buộc chúng ta phải đối xử với mọi người một cách chính đáng và do đó đừng phân biệt một cách độc đoán và thiếu căn cứ.

Chúng ta phải đối xử với những trường hợp giống nhau một cách giống nhau và những trường hợp khác nhau một cách khác nhau.

     Chỉ có đàn bà mới được nhận vào bệnh viện dành cho đàn bà và chỉ có trẻ em mới được nhận vào trường tiểu học. Chúng ta có những chương trình dành cho những người thổ dân, những người tỵ nạn, các lực sĩ, những người khuyết tật hay những người gặp khó khăn khi đọc chữ viết…
Vì thế việc biệt đãi hay giúp đỡ những người đặc thù bằng các phương thế thích đáng đều không phải là chuyện độc đoán mà là một lối ứng xử hoàn toàn hợp lý. Và nếu sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ có khác biệt với những sự kết hợp khác - không y hệt như những sự kết hợp khác - thì công bình đòi hỏi chúng ta phải đối xử với sự kết hợp đó một cách thích đáng. Nếu hôn nhân là một định chế đặt ra nhằm giúp cho những người khác giới tính có thể sống trung thành với nhau và trung thành với con cái sinh ra từ sự kết hợp của họ, thì việc dành riêng sự kết hợp đó cho họ không phải là một vấn đề kỳ thị.
Thực thế, trong lá thư mục vụ này chúng tôi biện luận rằng điều bất công – bất công cách trầm trọng - là:
*hợp pháp hóa lối khẳng định sai lầm  rằng chẳng có gì khác biệt giữa một người nam và một người nữ, một người cha hay một người mẹ;
*bỏ quên những giá trị đặc thù mà một cuộc hôn nhân chân chính thể hiện;
*bỏ quên điều quan trọng là, trong mức độ phù hợp, con cái cần có được một người cha và một người mẹ dấn thân cho chúng và cho nhau một cách dài lâu;
*càng tạo thêm bất ổn cho hôn nhân trong khi hôn nhân đã phải chịu nhiều áp lực; và
*trở ngược về quá khứ để thay đổi cái nền móng mà những đôi hôn nhân hiện còn đã dựa vào đó để kết hôn.
Nếu chúng tôi đúng trong sự quả quyết này và nếu dân luật cứ muốn bãi bỏ việc định nghĩa hôn nhân theo lối hiểu truyền thống, thì đó quả là một sự bất công trầm trọng và làm phương hại đến công ích mà dân luật tồn tại để phục vụ.

Chúng tôi đúng hay sai là tùy theo ý nghĩa đích thực của hôn nhân...

Nối Kết Cảm Xúc - so với -
Kết Hợp Toàn Diện
Một Xương Một  Thịt
Một quan điểm về hôn nhân cho rằng hôn nhân không gì khác hơn là sự dấn thân vào tình yêu. Theo quan điểm này, hôn nhân chủ yếu chỉ là một nối kết cảm xúc, được đề cao thêm lên bằng những lời hứa chính thức và sinh hoạt tính dục đồng thuận. Do đó, hôn nhân chỉ có giá trị khi những cảm xúc tốt đẹp của nó còn tồn tại mà thôi. Những người đề xướng quan điểm về hôn nhân này lập luận rằng xét vì người nam với người nữ, người nam với người nam, và người nữ với  người nữ, đều có thể có những nối kết cảm xúc này, cho nên tất cả những kết hợp như thế đều phải được công nhận là hôn nhân theo luật pháp. (Với lý luận này, hôn nhân có thể được tái định nghĩa thêm lên để bao gồm nhiều thứ quan hệ khác nữa)
Quan điểm truyền thống về hôn nhân mà Giáo hội luôn công nhận thì có khác biệt. Hôn nhân được coi như là sự nối kết giữa các giá trị và con người trong cuộc sống của chúng ta, và nếu làm khác đi, thì cuộc sống sẽ có khuynh hướng phân thành nhiều mảnh: tính dục và tình yêu, nam và nữ, tính dục và con trẻ, cha mẹ và con cái. Quan điểm truyền thống này đã từ lâu có ảnh hưởng tới luật pháp, văn chương, nghệ thuật, triết lý, tôn giáo, và những tập tục xã hội chúng ta.
Trên quan điểm này, hôn nhân không những bao gồm sự kết hợp về cảm xúc mà còn đi xa hơn nữa. Nó còn liên quan đến sự kết hợp thiết yếu về thể xác và tinh thần của một người nam và một người nữ. Như trong Cựu Ước đã dạy và Chúa Giêsu cùng thánh Phaolô đã lập lại, hôn nhân là nơi mà người nam và người nữ thực sự trở thành "một xương một thịt" (St 2:24; Mt 19:5; Ep 5:31). Đó là sự kết hợp toàn diện giữa một người nam và một người nữ đặt nền móng trên sự kết hợp dị tính luyến ái.

Sự kết hợp này không phải chỉ được tập trung và xếp đặt cho sự yên ổn hạnh phúc của những người phối ngẫu mà còn hướng về việc sinh sản và sự yên ổn hạnh phúc của con cái nữa.

     Điều này vẫn đúng ngay cả khi một hay cả hai người phối ngẫu không có con được: họ vẫn thực hiện những hành vi vợ chồng y hệt như những đôi hôn nhân có thể có con được, tức là hành vi mở ngõ cho việc sinh sản con cái theo cách thế tự nhiên. Hôn nhân đối với họ cũng như với những cặp hôn nhân chính thức khác đều đặt nền tảng trên sự dấn thân toàn diện: thể xác và tinh thần, tính dục và sinh sản, lâu bền và độc riêng. Chính vì những ý nghĩa này mà hôn nhân được coi là toàn diện.
Trên quan điểm truyền thống này, yếu tố cho phép thừa nhận sự kết hợp đặc biệt giữa một người nam và một người nữ chính là sự khác biệt và tính bổ túc giữa họ với nhau. Những sự khác biệt về thể lý, tinh thần, tâm lý và tính dục cho thấy họ là của nhau, sự kết hợp làm cho họ trở nên vẹn toàn, và qua sự kết hợp nên "một xương một thịt" họ sinh ra con cái là chính "xương thịt từ xương thịt của họ". Họ có chung những tương đồng của nhân tính nhưng cũng mang sự khác biệt riêng rẽ giữa nam giới và nữ giới, là chồng và vợ, làm cha và làm mẹ.

Còn những tình bạn đồng tính thì thuộc về một loại rất khác biệt: nếu coi những tình bạn này y hệt như trên, thì sẽ tạo ra bất công trầm trọng cho cả hai loại tình bạn và bỏ quên các giá trị đặc thù mà hôn nhân chân chính thể hiện.

Tầm Quan Trọng của
Hôn Nhân và Gia Đình
Giáo Hội Công Giáo quan tâm sâu xa về hôn nhân vì đó chính là một điều tốt hảo căn bản, một nền tảng cho sự tồn tại và hưng thịnh của nhân loại, và là một hồng ân của Thiên Chúa. Sự quyết định dấn thân lâu dài và độc riêng nhằm chia sẻ cả cuộc đời mình với một người khác phái và để nuôi nấng con cái vì chúng là kết quả, hiện thân và là nối dài của sự kết hợp như thế, thì đó là một điều tốt hảo ngay cả khi không có con. Nhưng chính vì con cái là kết quả tự nhiên của cuộc sống hôn nhân và tốt nhất là được nuôi nấng trong sự dấn thân của hôn nhân, nên điều này cũng làm cho hôn nhân trở thành một phần cốt yếu của việc truyền giống và nuôi dưỡng gia đình nhân loại.
Hôn nhân cũng nối kết nhiều gia đình với nhau, khuyến khích sự hiệp thông giữa con người với con người.

Mỗi một cuộc hôn nhân, từ buổi ban đầu, là “nền móng chờ sẵn” cho một gia đình mới, và mỗi một gia đình dựa trên hôn nhân là một “tế bào” căn bản của xã hội.

     Gia đình còn làm một điều cần thiết cho tương lai là góp phần vào sự yên ổn của xã hội, qua việc nêu gương về tình yêu và hiệp thông, tiếp đón và nuôi dưỡng sự sống mới, trông nom những người già yếu bệnh tật. Ý nghĩa “công cộng” chủ yếu của một gia đình dựa trên hôn nhân chính là việc nuôi dưỡng những người công dân khỏe mạnh, phát triển toàn diện và đạo đức.
Các chính phủ thường không can thiệp vào các mối liên hệ: việc của chính phủ không phải là lên tiếng bảo ai là bạn của ai và đặt trên căn bản nào.

Thế nhưng bởi vì vai trò cốt yếu của hôn nhân là làm nơi nuôi dưỡng tương lai của cộng đồng, và vì trách nhiệm của hôn nhân là luôn luôn hành xử cho quyền lợi tốt nhất của con cái, nên chính phủ khắp nơi đều công nhận và quy định luật lệ cho hôn nhân.

Hôn nhân còn mang ý nghĩa tôn giáo. Giáo Hội Công Giáo tin rằng Thiên Chúa là tác giả của hôn nhân, “phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau”, kể cả "những tốt hảo của những người phối ngẫu cùng việc sinh sản và dưỡng dục con cái" . Chúa Giêsu nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được rửa tội lên hàng bí tích "qua đó Thiên Chúa giúp cho những người phối ngẫu sống với phẩm giá và bổn phận trong bậc sống của họ" và từ đó đạt tới sự cứu rỗi trong Thiên Chúa.

Vì những lý do đó nên Giáo Hội có thể nói rằng hôn nhân không phải chỉ là một định chế tự nhiên mà còn  “thánh thiện” nữa

     Thế cho nên Giáo Hội, cũng như quốc gia, đều quan tâm đến việc thấu hiểu đúng đắn và hỗ trợ hôn nhân chân chính.

 

Tầm Quan Trọng
của Mẹ và Cha

Mỗi đứa trẻ đều có một người mẹ và một người cha theo diện sinh học. Tuy nhiên tầm quan trọng của mẹ cha còn đi xa hơn vấn đề sinh sản.
Người nam và người nữ đều mang đến những năng khiếu riêng biệt để chia sẻ phận vụ nuôi nấng con cái. Làm mẹ và làm cha khác biệt rõ ràng. Chỉ có người nữ mới có thể làm mẹ và chỉ có người nam mới có thể làm cha.
Người mẹ và người cha góp phần vào việc dạy dỗ con cái bằng cách thức khác nhau. Khi coi trọng nhân phẩm của một đứa trẻ thì có nghĩa là chúng ta đã khẳng định về nhu cầu cũng như quyền lợi tự nhiên của nó được có một người cha và một người mẹ. Có biết bao cuộc nghiên cứu đáng tin cậy đã cho ta biết rằng mẹ và cha sẽ tăng cường sự phát triển của đứa trẻ bằng những cách thức khác nhau, và nếu thiếu vắng họ thì sự phát triển sẽ gặp trở ngại.
Giáo Hội công nhận những khó khăn mà những người cha hay những người mẹ đơn thân phải đối đầu và cố gắng hỗ trợ, khi họ thường xuyên can đảm đáp ứng các nhu cầu của con cái mình.

Tuy nhiên, vẫn có điều khác biệt to lớn giữa cách xử sự đối với một thực tế ngoài ý muốn về tình trạng cha mẹ đơn thân và việc sắp xếp từ đầu để tạo ra một “thứ gia đình thay thế” cố tình khiến cho đứa trẻ bị tước đi một người cha hay một người mẹ.

     Đôi khi người ta cho rằng trẻ em vẫn sống tốt đẹp với hai người mẹ hay hai người cha, và cũng “chẳng có khác biệt gì” giữa gia đình có cha mẹ đồng tính và gia đình có cha mẹ dị tính. Tuy nhiên, khảo cứu về xã hội học, cũng như kinh nghiệm lâu đời của Giáo Hội và của xã hội đã xác nhận về tầm quan trọng của việc con cái cần có cả cha lẫn mẹ, nếu có thể được.
Vì thế, "làm xáo trộn hôn nhân" cũng là "làm xáo trộn những đứa trẻ". Đó là điều bất công trầm trọng cho chúng. Chúng ta biết rằng ngày nay hôn nhân và gia đình đã chịu nhiều áp lực và có nhiều hiểu lầm về ý nghĩa cùng cách sống trong hôn nhân và gia đình rồi. Giáo Hội đã dồn nhiều nỗ lực mục vụ để giúp cho mọi người sống cuộc đời hôn nhân gia đình một cách tốt đẹp và để hỗ trợ cho những người lâm cảnh hôn nhân gia đình tan vỡ. Điều này khiến chúng ta phải nhận rằng nếu xé ra thêm nữa về cái ý nghĩa truyền thống của hôn nhân và gia đình, thì chỉ làm cho con người khổ thêm - và nhất là sẽ làm khổ thêm nhiều bạn trẻ đang cần sự giúp đỡ đặc biệt vì họ dễ bị tổn thương.

Hậu Quả của Việc
Tái Định Nghĩa Hôn Nhân  
Ngoài các ảnh hưởng trên những người phối ngẫu và trên con cái, việc định nghĩa lại hôn nhân để bao gồm "hôn nhân đồng tính" còn có những hậu quả sâu xa đến tất cả mọi người chúng ta.
Thế giới chung quanh ta có ảnh hưởng đến những cộng đồng mà chúng ta chung sống. Những quy tắc văn hóa và luật pháp định hình cho ý tưởng của chúng ta về thế giới, về những gì có giá trị, và về những gì là tiêu chuẩn thích hợp cho cách cư xử. Rồi đến lượt những điều này lại định hình cho các lựa chọn của chúng ta. Do đó, một trong những mục đích chính yếu của luật pháp về hôn nhân là cho phép và khuyến khích các cá nhân thiết lập và duy trì những cam kết dấn thân thuộc về một loại nào đó.

Thế nhưng nếu định nghĩa của hôn nhân trong dân luật được sửa đổi để bao gồm "hôn nhân đồng tính" thì luật pháp và văn hóa của chúng ta sẽ dạy rằng hôn nhân chỉ là một sự kết hợp cảm xúc của bất cứ hai (hay nhiều) người nào đó.

     Tất cả các cuộc hôn nhân đều sẽ được xác định bằng cường độ của cảm xúc hơn là sự kết hợp dựa trên tính bổ túc giới phái và khả năng sinh sản.

Chồng và vợ, mẹ và cha sẽ được coi như những đơn vị cấu tạo của xã hội có thể hoàn toàn hoán đổi với nhau vì giới tính không còn là chuyện quan trọng nữa.

     Và những ai còn gắn bó với những định nghĩa lâu đời và tự nhiên của hôn nhân sẽ bị coi là cổ hủ, thậm chí là ngoan cố; họ sẽ phải trả lời trước sự phản đối của xã hội và luật pháp. Cho dầu ngay lúc đầu tiên các giáo sĩ và các nơi thờ phượng được một vài miễn trừ, nhưng rồi tự do lương tâm, tín ngưỡng và việc thờ phượng cũng sẽ bị cắt giảm bằng những cách thức hệ trọng.
Đây là một vài thí dụ từ đời sống thực sự đã xảy ra trong thời gian gần đây:

*Thành phố Coeur d'Alene, Idaho đã ra lệnh cho các giáo sĩ Kitô Giáo phải cử hành các cuộc lễ hôn nhân đồng tính, nếu không sẽ bị phạt 180 ngày tù cho mỗi một ngày không cử hành và phạt $1000 cho mỗi một ngày như vậy. Một số dân biểu Anh Quốc đã đe dọa là sẽ rút giấy phép của những giáo sĩ nào không chịu cử hành các cuộc “hôn nhân đồng tính.”

*Các giáo sĩ ở Hòa Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ và Úc đã bị đe dọa bằng những truy tố ra tòa về tội có những "diễn văn thù ghét" chỉ vì họ duy trì lập trường về hôn nhân trong truyền thống đức tin của mình. Thành phố Houston, Texas, đã gởi trát tòa cho các mục sư bắt buộc họ phải nộp các bài giảng để luật pháp kiểm tra, nếu có bàn luận đến tính dục.

*Ở Colorado và Oregon, tòa án đã phạt một số nhà làm bánh vì họ dựa trên lý do tôn giáo hay lương tâm mà từ chối không chịu làm bánh cưới cho những cuộc kết hôn đồng tính. Ở New Mexico một người thợ chụp hình đám cưới đã bị phạt vì không chịu chụp hình cho các  cuộc lễ kết hôn đó. Và ở Illinois một số chủ khách sạn đã bị thưa ra tòa vì không chịu tổ chức tuần trăng mật sau các cuộc “kết hôn đồng tính.”
*Đại học Yeshiva ở thành phố New York đã bị truy tố ra toà vì không chịu cung cấp chỗ ở cho các đôi hôn nhân đồng tính; và các đại học Công giáo khác cũng đã bị đe dọa bằng các hành động tương tự.

*Các cơ quan môi giới con nuôi Công Giáo ở Anh Quốc và một số tiểu bang Mỹ đã bị đóng cửa vì không chịu giao con nuôi cho những cặp đồng tính: thí dụ như Cơ Quan Dịch Vụ Gia Đình Trẻ Em Tin Lành ở Illinois (US) đã bị đóng cửa chính vì lý do đó.

*Các tổ chức Công Giáo ở một số tiểu bang Mỹ đã bị bắt buộc phải cho các người bạn đời đồng tính những phúc lợi về việc làm thường chỉ dành riêng cho người phối ngẫu.

*Ở New Jersey một công ty dịch vụ hò hẹn trên mạng đã bị thưa ra tòa vì không chịu cung cấp dịch vụ này cho các cặp đồng tính. Và một bác sĩ ở Quận San Diego đã bị truy tố ra tòa sau khi từ chối không chịu tham gia vào việc sinh nở của một đứa trẻ không cha bằng cách thụ tinh nhân tạo.

*Cha mẹ bên Gia Nã Đại và một số quốc gia Âu châu đã bị buộc phải cho con mình tham dự các lớp học về tính dục dạy về điều tốt lành của hoạt động đồng tính và sự bình đẳng của nó với hoạt động hôn nhân dị tính. Một thí dụ là Ông David và Bà Tanya Parker phản đối việc đứa con của họ trong vườn trẻ được dạy về hôn nhân đồng tính sau khi đã được hợp thức hóa bởi tòa thượng thẩm của tiểu bang Massachusettes. Điều này đã dẫn tới việc David bị còng tay và bắt giữ vì đã cố lôi con mình ra khỏi lớp đang dạy bài học này. Họ được giải thích là họ không có quyền làm như vậy.

*Hội Pháp Luật bên Anh Quốc đã thu hồi giấy phép của một nhóm gọi là "Quan Tâm của những người Kitô Giáo" không cho họ sử dụng cơ sở của họ vì nhóm này ủng hộ hôn nhân truyền thống mà Hội Pháp Luật cho là trái ngược với "chủ trương đa dạng" của họ.

*Bên Mỹ, Gia Nã Đại và Đan Mạch, các mục sư hoặc các tổ chức tôn giáo đã bị buộc phải cho phép các cuộc kết hôn đồng tính diễn ra trong nhà thờ hay hội trường của họ. Trại Ocean Grove của đạo Methodist ở New Jersey (Mỹ) đã bị mất một phần của tư cách miễn thuế chỉ vì họ không cho phép làm lễ kết hôn đồng tính tại cơ sở của họ.

*Dân Biểu Anh Quốc đã dọa sẽ không cho các nhà thờ tổ chức lễ cưới nếu họ không đồng ý cử hành các lễ cho người đồng tính.

*Vị Giáo Sĩ Do Thái Trưởng của Amsterdam và một Giám mục bên Tây Ban Nha đã bị dọa truy tố ra tòa về tội có "diễn văn thù ghét" chỉ vì họ lập lại quan điểm truyền thống của tôn giáo họ.

*Nhà Phó Tâm Lý Học của tiểu bang Victoria đã bị áp lực phải từ chức vai trò của ông trong Ủy Ban Nhân Quyền Victoria và Bình Đẳng Cơ Hội sau khi ông tham gia cùng với 150 bác sĩ để tuyên bố trước một cuộc thẩm vấn của Thượng Nghị Viện rằng con cái sống với cả cha lẫn mẹ thì tốt hơn. Ở nhiều tiểu bang Mỹ và ở bên Anh, các nhà tâm lý học đã mất việc làm vì họ tuyên bố rằng họ ủng hộ hôn nhân truyền thống hoặc các gia đình xuất phát từ đó.

*Sau khi cho phép "hôn nhân đồng tính", Ba Tây đã cho phép hôn nhân đa hôn, và vì thế Gia Nã Đại cùng nhiều nơi khác cũng đang bị áp lực phải làm luật như vậy.

*Các thương gia, lực sĩ, bình luận gia, giáo chức, bác sĩ, y tá, lãnh đạo tôn giáo và các người khác ở nhiều quốc gia đã bị gièm pha trên các phương tiện truyền thông, bị từ chối việc làm hay các hợp đồng thương mãi, và bị dọa truy tố ra tòa, vì họ đã tuyên bố ủng hộ hôn nhân truyền thống.

Vì thế một quan điểm về hôn nhân - giữa một người nam và một người nữ - mà trước kia rất bình thường đối với cả những người có tin và những người không tin, qua nhiều thời đại và văn hóa, đang càng ngày càng trở thành một sự thật câm nín không thể nói ra. Việc định nghĩa lại hôn nhân có nhiều hậu quả cho tất cả mọi người.

Đã Đến Lúc Phải Hành Động
Từ ngữ "hôn nhân" không phải chỉ là một nhãn hiệu mà ta có thể dán lên hoặc chuyển qua nhiều thể loại quan hệ khác nhau khi trào lưu của thời đại đòi hỏi. Nó đã có một ý nghĩa nội tại hay tự nhiên trước bất cứ cái gì mà chúng ta có thể phát minh ra hay bất cứ luật lệ nào mà quốc gia có thể ban hành để kiểm soát. Nó phản ảnh ý định của Thiên Chúa cho loài người, cho sự tăng trưởng cá nhân của chúng ta, của con cháu chúng ta và của xã hội. Khi nói rằng những tình thân khác không phải là hôn nhân thì chúng ta không có ý hạ thấp giá trị của những tình thân đó hoặc hạ thấp giá trị của các cá nhân liên hệ mà chỉ có ý nói là chúng ta công nhận rằng:

...hôn nhân là giao ước giữa một người nam và một người nữ để chung sống như chồng vợ, độc riêng và suốt đời, và mở ngõ cho việc sinh sản con cái.

     Tất cả chúng ta đều biết đến và vẫn yêu mến những người mang khuynh hướng đồng tính. Họ là anh chị em, con trai và con gái, bạn hữu và láng giềng của chúng ta. Họ cũng cần được yêu thương và đùm bọc như tất cả mọi người khác. Nhưng nếu giả vờ coi những quan hệ của họ là "hôn nhân" thì không hợp lý và công bằng cho họ gì cả. Là người Kitô hữu chúng ta phải sẵn sàng trình bày sự thật về hôn nhân, gia đình và tính dục, và phải trình bày với lòng bác ái và yêu thương.
Chúng tôi kêu gọi mọi người thiện chí tăng cường thêm sự ủng hộ của họ cho định chế hôn nhân trong cộng đồng chúng ta và cho những luật lệ cùng văn hóa giúp nó đứng vững. Chúng tôi đặc biệt thôi thúc anh chị em hãy bày tỏ quan điểm của mình cho các đại biểu quốc hội của anh chị em được biết. Ở vào thời điểm hiện giờ trong lịch sử của quốc gia chúng ta, những người sống đời hôn nhân cần phải dùng chính cuộc đời của mình để làm chứng cho vấn đề này. Chúng ta cầu nguyện cách đặc biệt cho tình thân và tình yêu chân chính trong cuộc đời của mỗi người, dù kết hôn hay không kết hôn; cầu nguyện cho sự hiểu biết đúng đắn về ý nghĩa của hôn nhân và những đòi hỏi của công lý; và cầu nguyện cho lòng người được ngày càng mở rộng ra đối với chứng tá hùng hồn của những cặp vợ chồng sống đời hôn nhân trong thế giới của chúng ta.

Nguyên tác: Don’t Mess with Marriage:
A Pastoral Letter from the Catholic Bishops of Australia to all Australians on the “Same-sex Marriage” Debate.
© 2015 Australian Catholic Bishops Conference.
www.catholic.org.au

Phiên dịch: Ô. Nguyễn Quốc Hiệp
                    và Đ.Ô. Nguyễn Minh-Tâm.

Additional References
6. See e.g. P Amato, “Research on Divorce: Continuing trends and new developments,” Journal of Marriage and Family 72 (2010): 650-666;
S McLanahan and C Percheski, “Family Structure and the Reproduction of Inequalities,” Annual Review of Sociology 34 (2008): 257-276;
S McLanahan and G Sandefur, Growing Up with a Single Parent: What Hurts, What Helps (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1994);
B Ellis, et al., “Does Father Absence Place Daughters at Special Risk for Early Sexual Activity and Teenage Pregnancy?” Child Development 74 (2003): 801–21;
W B Wilcox, et al., Why Marriage Matters: Twenty-Six Conclusions from the Social Sciences, 2nd ed. (New York: Institute for American Values, 2005);
E Marquardt, Family Structure and Children’s Educational Outcomes (New York: Institute for American Values, 2005);
P Amato, “The Impact of Family Formation Change on the Cognitive, Social, and Emotional Well-Being of the Next Generation,” The Future of Children 15 (2005): 75–96;
C Harper and S McLanahan, “Father Absence and Youth Incarceration,” Journal of Research on Adolescence 14 (2004): 369–97.

7. See, e.g.: S Brown, “Marriage and Child Well-
Being: Research and policy perspectives” Journal of Marriage and Family 72 (2010): 1059-1077;
D P Sullins, “Emotional Problems among Children with Same-Sex Parents: Difference by Definition,”
British Journal of Education, Society and Behavioural Science 7(2) (2015): 99-120;
W B Wilcox, et al., Why Marriage Matters;
W B Wilcox, “ReconcilableDifferences: What Social Sciences Show about the Complementarity of the Sexes and Parenting,”Touchstone 18, no. 9 (November 2005): 36;
M Regnerus, “How Different Are the Adult Children of Parents Who Have Same-Sex Relationships? Findings from the New Family Structures Study,” Social Science Research 41 (2012): 752–70;
and L Marks, “Same-sex Parenting and Children’s Outcomes: A Closer Examination of the American Psychological Association’s Brief on Lesbian and Gay Parenting,” Social Science Research 41 (2012): 735–51, 748.
DMM

Other resources
For those who wish to read more we recommend the publications of the Bishops’ Commission for Pastoral Life, available at http://tinyurl.com/pastorallife

Other Church documents include John Paul II, Familiaris Consortio (1981) and Congregation for the Doctrine of the Faith, Regarding Proposals to Give Legal Recognition to Unions between Homosexual Persons (2003), both available at www.vatican.va

                Mặc dù chúng tôi dùng từ ngữ "đồng tính hôn nhân" trong lá thư mục vụ này, nhưng chúng tôi không bao giờ coi những liên hệ đồng tính là tương đương như hôn nhân. Như chúng tôi đã biện luận, ý nghĩa của hôn nhân chỉ được giới hạn cho những liên hệ giữa một người nam và một người nữ khi họ tự nguyện bước vào để sống mối liên hệ đó một cách trọn đời. Mối liên hệ đó loại trừ mọi người khác và đồng thời mở ngõ cho việc sinh con đẻ cái.

 

                Đã có những thí dụ về "cặp ba", đó là khi ba người kết hôn trong một buổi lễ tư nhân.

 

                Công Đồng Vatican Đệ Nhị, Gaudium et Spes §48.

 

                 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, Familiaris Consortio.

 

                Thí dụ: Bộ Giáo Lý Đức Tin, Về Những Đề Nghị Công Nhận Hợp Pháp Sự Kết Hợp Giữa Những Người Đồng Tình Luyến Ái, 3-6-2003.